
Bác
Hồ và Đoàn ca múa Nhân dân. Ảnh tư liệu.
"Văn hóa
soi đường" đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, chủ nghĩa xã
hội
Thắng lợi vẻ
vang của Cách mạng Tháng Tám đã tạo động lực, mục tiêu, cảm hứng, niềm tin to
lớn, mạnh mẽ cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta viết trang sử mới của một
kỷ nguyên mới, mở ra một thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh. Bằng cảm xúc
thiêng liêng, dào dạt trước mùa Thu cách mạng, trước nền độc lập tự do, nhà thơ
Tố Hữu đã viết những câu thơ hào sảng:"Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay
cơn gió mạnh / Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời" (Huế tháng
Tám); nhà thơ Nguyễn Đình Thi reo vui:"Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng
vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới /
Trong biếc nói cười thiết tha"... (Đất nước); nhạc sĩ Bùi Công Kỳ với ca
khúc "Ba Đình Nắng" (thơ Vũ Hoàng Địch), cất lên những giai điệu tự
hào, kiêu hãnh:"Gió vút lên ngọn cờ trên kỳ đài phơi phới / Gió vút lên
đây bao nguồn sống mới dạt dào / Tôi về đây lắng nghe bao tiếng gọi / Của mùa
thu cách mạng, mùa vàng sao…".
Ngay từ những
ngày đầu và nhiều năm tháng sau đó, Cách mạng Tháng Tám và nguồn sáng tin yêu
từ lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trở thành niềm kiêu hãnh, sức kết nối và lan tỏa của
triệu triệu con tim, thành niềm cảm hứng lớn lao, trong trẻo, ào ạt của cả dân
tộc tự tin vươn về phía trước. Với tầm nhìn thời đại, tầm vóc văn hóa, bản lĩnh
chính trị, cùng với việc đề cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao tính "soi đường", "thắp lửa"
của văn hóa, văn nghệ, vai trò to lớn của đội ngũ nhân sĩ, trí thức, văn nghệ
sĩ sát cánh cùng công nông binh và giới công thương gia trong công cuộc kháng
chiến kiến quốc.
Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã thực thi nhiều biện pháp nhằm tìm kiếm, phát hiện, tập hợp,
sử dụng, trọng dụng nhân tài; giúp đỡ thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ mới tiến bộ;
đào tạo, gây dựng họ thành những người"chính tâm và thân dân"[1].
Trong bài viết
"Nhân tài và Kiến quốc", đăng báo Cứu quốc, số ra ngày 14/11/1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:"Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài
nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối,
khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều".
Tại Hội nghị Văn
hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định:"Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc
làm cơ sở". Người chỉ rõ"Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt,
ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam, trau dồi cho văn hóa Việt Nam
thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ". Người
nhấn mạnh: "Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho
văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được
tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do,
độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc
lập, tự do"… "Số phận dân ta là ở trong tay ta. Văn hóa phải soi
đường cho quốc dân đi".
Hưởng ứng lời
kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ mới, nhiều trí thức, văn nghệ sĩ,
giới công thương gia là người Việt Nam đang sinh sống, làm việc ở các đô thị
lớn trong nước và ở nước ngoài đã tự nguyện rời bỏ cuộc sống nơi phồn hoa, lên
chiến khu hay trở về Tổ quốc tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy
hy sinh, gian khổ. Đó là các vị: Hoàng Minh Giám, Vũ Ðình Tụng, Tạ Quang Bửu,
Phan Anh, Phạm Quang Lễ (tức Trần Ðại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Lương Ðịnh Của,
Nguyễn Văn Huyên, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát,
Phạm Ngọc Thạch, Ðặng Văn Ngữ, Trịnh Ðình Thảo, Trần Đức Thảo, Ngụy Như Kon
Tum, Võ Quý Huân, Vũ Đình Quỳnh... và nhiều người khác.
Trong thư gửi
các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (năm 1951) ở chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định:"Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị
em là chiến sĩ trên mặt trận ấy". Người đề cao vai trò xung kích của văn
hóa, văn nghệ trong sứ mệnh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng
chế độ mới. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... phải
tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ
của dân tộc."Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể
đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị"; "chính trị, kinh
tế, văn hóa đều "phải coi là quan trọng ngang nhau"[2].
Đồng hành cùng
dân tộc, cùng nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng, nhiều thế hệ trí thức, nhà khoa
học, văn nghệ sĩ, công thương gia đã đồng hành cùng cả dân tộc trong cuộc
trường chinh gian khổ đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành thắng lợi
vẻ vang trong các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, chủ quyền quốc gia, xây
dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Văn hóa tiếp tục
"soi đường", khơi dậy khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, phồn
vinh, hạnh phúc
Để đưa đất nước
vững bước đi lên, trong số các nguồn lực, nền tảng, điểm tựa quan trọng, văn
hóa luôn luôn có vị trí đặc biệt, vị trí "soi đường", "chiếu
sáng", tạo cảm hứng cách mạng và sáng tạo to lớn cho mọi giới, mọi lực
lượng. Đảng ta xác định:"Xây dựng và phát triển văn hóa, con người là
nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Văn hóa là hồn cốt
của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh
quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"[3].
Cố Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng lúc sinh thời khẳng định:"Nền văn hóa mà chúng ta xây
dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa
dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội"...
"phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và
phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm
mỹ ngày càng cao".
Trước chặng
đường mới của đất nước, từ góc nhìn cách mạng và văn hóa, Đảng ta và Tổng Bí
thư Tô Lâm đã khởi xướng và lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào
và vươn lên trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nếu có ai đó
băn khoăn, nêu câu hỏi: Tại sao chúng ta lại phải xác định "kỷ nguyên
mới", "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" thì câu trả lời vẫn từ
góc nhìn cách mạng và văn hóa: Thế giới đã và đang đi rất nhanh, tiến rất mạnh
vào thời kỳ phát triển đột phá chưa từng có về khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo. Câu nói của một thời "Một ngày bằng hai mươi năm" vốn là
điều mơ ước thì nay là sự thật hiển nhiên, sinh động.
Sự phát triển
nhanh chóng và mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn và
tự động hóa đang định hình mạnh mẽ, nhanh chóng tư duy, cách thức làm việc,
sinh hoạt và giao tiếp trong từng cộng đồng, từng quốc gia và cả nhân loại.
Điều này đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ, sâu sắc một tâm thế, một tầm
nhìn, một cuộc đổi thay lớn lao; phải đào tạo, gây dựng một thế hệ, nhiều thế
hệ cán bộ trẻ đáp ứng những đòi hỏi rất cao, rất khắt khe để phát triển bền
vững đất nước, tiến hành một cuộc cách mạng về hạ tầng, về thể chế, về nguồn
nhân lực. Phải tổ chức lại, nâng cao trình độ, năng lực bộ máy quản lý, quản
trị, tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đầu tư mọi mặt để
phát triển khoa học, công nghệ. Phải tạo nội lực vững chắc mới đủ tự tin hội
nhập, hợp tác với bên ngoài. Từ vị thế đi sau, trình độ, kỹ năng, nguồn lực hạn
chế, có mặt non yếu, bất cập, chúng ta phải tích cực học hỏi, tiếp nhận, tiếp
biến văn hóa, khoa học, công nghệ từ bên ngoài, vươn lên khẳng định vai trò,
tầm vóc, thế và lực của ta trong luật chơi và cuộc chơi toàn cầu, nhất là ở các
lĩnh vực mới nổi, có tính đột phá.
Ngày 7/1/2026,
Bộ Chính trị (khóa XIII) ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa
Việt Nam. Đây là một nghị quyết cấu thành trong hệ thống các nghị quyết quan
trọng để phát triển toàn diện và vững mạnh đất nước mà Bộ Chính trị đã ban hành
và chỉ đạo thực hiện quyết liệt trong năm 2025 đến nay.
Nghị quyết
80-NQ/TW khẳng định: "Văn hoá Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp
của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là nguồn lực
nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt
Nam".
Nghị quyết
80-NQ/TW yêu cầu: "Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hoá chưa toàn diện
và sâu sắc. Việc thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách,
pháp luật của Nhà nước còn chậm, chưa đồng bộ, có mặt thiếu đột phá. Môi trường
văn hoá chưa thật sự lành mạnh, đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp, mất bản
sắc. Đầu tư cho văn hoá còn thấp và dàn trải; nguồn lực chủ yếu dựa vào ngân
sách nhà nước. Nguồn nhân lực văn hoá tồn tại nhiều bất cập. Cơ chế, chính sách
chưa phát huy đầy đủ sức sáng tạo của các chủ thể, đặc biệt là đội ngũ trí
thức, văn nghệ sĩ. Mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hoá của người dân còn chênh
lệch giữa các vùng, miền, địa phương".
Nghị quyết
80-NQ/TW nêu quan điểm chỉ đạo của Đảng: "Phát triển văn hoá, con người là
nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết
cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn
kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh
tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành
sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới"… "Phát triển văn hoá
vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và
xây dựng con người để phát triển văn hoá. Tạo lập môi trường văn hoá nhân văn,
lành mạnh, văn minh, hiện đại. Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam
trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và
chuẩn mực con người Việt Nam".
Nghị quyết
80-NQ/TW tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng: "Phát triển văn
hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân
dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ,
cán bộ văn hoá, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính
tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên".
Nghị quyết
80-NQ/TW yêu cầu phát huy mạnh mẽ, toàn diện sức mạnh văn hóa, con người Việt
Nam; giải quyết tốt hơn các mối quan hệ nội tại của văn hoá: "xây" và
"chống"; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; bảo tồn và
phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và
bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số".
Mục tiêu chung
đến năm 2030 là "xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân
chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh từ gia
đình, nhà trường đến xã hội và không gian số. Phát triển văn học, nghệ thuật
xứng tầm với lịch sử văn hoá dân tộc và tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới…
Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi
nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo"…
Một số chỉ tiêu
quan trọng được xác định: "Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá quốc gia,
bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn
hoá đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hoá của người dân ở cơ sở và cán
bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.
Phấn đấu hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp
quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. 100% học sinh, học viên, sinh
viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường
xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hoá. Bảo đảm nguồn lực
tương xứng cho phát triển văn hoá; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà
nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Ban hành cơ chế
tài chính để ưu tiên thực hiện trong 3 lĩnh vực đột phá: Đào tạo và đãi ngộ
nhân tài trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật; ứng dụng khoa học, công nghệ,
chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá và đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá,
tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ
thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới….Phát triển các
ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu
quốc gia về công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch
văn hoá, thiết kế và thời trang,... Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan
nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập
thêm từ 1 - 3 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn
đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công
nhận, ghi danh.
Nghị quyết
80-NQ/TW xác định tầm nhìn đến năm 2045: "Xây dựng và phát triển nền văn
hoá Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục
tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hoá giữ vai trò nền tảng, chuẩn
mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khẳng định vị thế
văn hoá của quốc gia phát triển có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực
và quốc tế; trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hoá - sáng tạo
năng động, với một số chỉ tiêu chính: Công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo
thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP. Có
10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế; phấn đấu
thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh. Phấn đấu nằm
trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power
Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá.
Ở phần nhiệm vụ,
giải pháp, Nghị quyết 80-NQ/TW đề ra những việc, những cách thức đúng đắn,
quyết liệt, có tính khả thi về "Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về
nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Hoàn thiện
thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa".
Nhiều nhiệm vụ,
giải pháp sát với thực tế đời sống, thậm chí rất cấp thiết: "Xây dựng, ban
hành và tổ chức thực hiện Bộ chỉ số văn hoá quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về
đóng góp của các ngành công nghiệp văn hoá đối với phát triển kinh tế theo
chuẩn mực quốc tế. Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá… Hỗ trợ doanh
nghiệp công nghiệp văn hoá tiếp cận và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản
xuất nội dung số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hoá và bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ trên môi trường số; chính sách thu hút đầu tư từ các tập đoàn công nghệ
lớn vào hạ tầng số và phát triển các giải pháp công nghệ cao cho văn hoá; ưu
tiên đầu tư phát triển các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện. Thí điểm các
mô hình kinh doanh văn hoá mới gắn với nền tảng số; khuyến khích khu vực tư
nhân đầu tư các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hoá, đặc biệt là ở các vùng khó
khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Có chính sách đặc thù,
đột phá thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hoá, triển khai mô hình
lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư công - quản lý tư; đầu tư tư - sử dụng công
đối với một số thiết chế văn hoá, thể thao; khuyến khích mô hình bảo trợ văn
hoá, nghệ thuật trên cơ sở đóng góp tự nguyện, phi lợi nhuận; phát huy vai trò
chủ thể và trách nhiệm xã hội của tổ chức, cá nhân trong hệ sinh thái văn hoá.
Xây dựng Quỹ văn hoá, nghệ thuật theo mô hình công tư. Xây dựng cơ chế đặc thù
trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng văn hoá,
nghệ thuật, thể thao; chú trọng các môn nghệ thuật truyền thống, đồng thời thúc
đẩy các loại hình nghệ thuật đương đại; bảo đảm điều kiện giảng dạy, sáng tạo
đặc thù và chăm sóc sức khoẻ chuyên biệt. Có chính sách hỗ trợ sáng tạo văn hoá
trong không gian số, môi trường số, xã hội số, kinh tế số. Có chính sách đãi
ngộ xứng đáng với nghệ nhân (dân gian), nghệ sĩ; tạo điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ
văn nghệ sĩ tham gia, đạt giải thưởng lớn tại các cuộc thi, triển lãm uy tín,
danh giá về nghệ thuật của thế giới. Có cơ chế hiệu quả để đưa các tác phẩm
nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hoá của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí bảo vật
quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài về nước. Có cơ chế đặt
hàng sáng tạo và phổ biến các công trình, tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật
có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá
Việt Nam trong kỷ nguyên mới"… "Chú trọng xây dựng con người Việt Nam
phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn
minh, hiện đại"… "Lấy xây dựng nhân cách con người làm trọng tâm để
định hướng hoạt động văn hoá, giáo dục, khoa học vào mục tiêu xây dựng con
người phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ; giúp con người nâng cao trí
tuệ, tự hoàn thiện nhân cách, hình thành thế giới quan khoa học, hướng tới các
giá trị chân - thiện - mỹ"…"Triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hoá
(dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học), hệ giá trị quốc gia (hoà bình, thống
nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc),
hệ giá trị gia đình (ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh), chuẩn mực con người
Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ
cương, sáng tạo).
Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, sự chung sức đồng lòng của Nhân dân, đất nước ta đã làm nên những kỳ
tích trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây
dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chặng đường mới, nhất định
chúng ta sẽ kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của hôm qua, nỗ lực phấn
đấu, lập nên những kỳ tích mới, xác lập tầm vóc mới, đưa đất nước ta vững bước
đi lên chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc.
PGS.TS
Nguyễn Thế Kỷ
nguyên
Ủy viên Trung ương Đảng
nguyên
Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam
nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 376 – 378
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính
trị quốc gia, H, 2011, tr. 246
[3] Kết luận số 76-KL/TW, ngày 4-6-2020 của
Bộ Chính trị (khóa XII): "Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban
Chấp hành Trung ương khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước"