Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực bình đẳng giới và quyền con người theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW
“Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị” (Bộ Chính trị, 2018).

 

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các vấn đề về quyền con người (QCN) và bình đẳng giới (BĐG) ngày càng trở thành các nội dung trung tâm trong các diễn ngôn chính trị – xã hội toàn cầu. Đây vừa là những giá trị tiến bộ, phản ánh thành tựu phát triển của nhân loại, đồng thời cũng là lĩnh vực nhạy cảm, thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, qua đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực BĐG và QCN không chỉ là nhiệm vụ chính trị – tư tưởng mà còn là yêu cầu cấp thiết về phương diện khoa học – lý luận trong giai đoạn hiện nay.

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã xác định rõ:

Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị” (Bộ Chính trị, 2018).

Việc gắn nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với lĩnh vực BĐG và QCN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là lĩnh vực thể hiện tập trung bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa và trực tiếp liên quan đến đời sống của hàng triệu người dân, nhất là phụ nữ và các nhóm yếu thế.

Phát động Tháng hành động vì bình đẳng giới năm 2025- Ảnh 2.

Lễ phát động Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2025 do Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với UN Women tổ chức (Ảnh: Báo điện tử Chính Phủ)

2. Cơ sở lý luận về BĐG và QCN trong nền tảng tư tưởng của Đảng

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong hệ thống lý luận đó, giải phóng con người, trong đó có giải phóng phụ nữ, là nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định trong bài nói của Người tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hôi. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”

Quan điểm này đặt BĐG trong mối quan hệ hữu cơ với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội, khác về bản chất với cách tiếp cận coi BĐG chỉ là vấn đề quyền cá nhân thuần túy. Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng đó thành đường lối nhất quán: BĐG vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện tốt chính sách phát triển con người, bảo đảm bình đẳng giới; tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò trong gia đình và xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Đồng thời, Đại hội XIII khẳng định yêu cầu: “Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).

Như vậy, trong nền tảng tư tưởng của Đảng, BĐG và QCN không phải là hai lĩnh vực tách rời, mà thống nhất trong mục tiêu phát triển con người toàn diện và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

3. Nội dung cốt lõi của Nghị quyết 35 gắn với lĩnh vực bình đẳng giới và quyền con người

Nghị quyết số 35-NQ/TW xác định nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa – xã hội và QCN. Nghị quyết nhấn mạnh: “Kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Bộ Chính trị, 2018).

Trong thực tiễn, các luận điệu xuyên tạc thường tập trung vào việc tuyệt đối hóa một số khái niệm về QCN và BĐG theo hướng tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, chính trị và trình độ phát triển của đất nước; từ đó quy kết rằng Việt Nam “vi phạm quyền phụ nữ” hoặc “không thực hiện bình đẳng giới thực chất”, nhằm gây hoài nghi trong dư luận xã hội và tạo sức ép từ bên ngoài. Một số quan điểm khác lại cực đoan hóa vấn đề giới, đồng nhất BĐG với việc phủ nhận vai trò gia đình truyền thống hoặc xóa bỏ khác biệt giới tính sinh học. Những cách tiếp cận này đều làm sai lệch bản chất chính sách BĐG và QCN theo quan điểm của Đảng, đồng thời phục vụ mục tiêu chính trị là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực xã hội.

4. Bình đẳng giới và quyền con người trong thực tiễn phát triển ở Việt Nam

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực BĐG và bảo đảm QCN. Tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động ở mức cao trong khu vực (Vu, L., Tran, T., & Phung, T., 2021; Klasen, et al., 2020); tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội liên tục được duy trì ở mức trên trung bình của thế giới (Joshi & Thimothy, 2018; Mac Hoai Thuong, 2024); hệ thống pháp luật về BĐG, phòng, chống bạo lực gia đình, bảo vệ phụ nữ và trẻ em ngày càng hoàn thiện.

Những thành tựu đó thể hiện rõ định hướng: QCN và BĐG không chỉ được thừa nhận về mặt pháp lý mà còn được cụ thể hóa bằng chính sách phát triển và hệ thống an sinh xã hội. Điều này phù hợp với quan điểm của Đảng coi QCN là giá trị phổ quát, nhưng việc thực hiện QCN phải gắn với điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể của mỗi quốc gia.

Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Bảo đảm quyền con người, quyền công dân; gắn quyền với nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội; quyền con người được tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).

Trong lĩnh vực BĐG, Đảng ta xác định đây không chỉ là vấn đề quyền lợi của phụ nữ mà còn là nội dung quan trọng của chiến lược phát triển con người. BĐG được đặt trong mối quan hệ với xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, việc làm và an sinh xã hội, qua đó thể hiện rõ tính toàn diện và nhân văn của định hướng xã hội chủ nghĩa.

5. Những biểu hiện xuyên tạc và thách thức tư tưởng trong lĩnh vực bình đẳng giới và quyền con người

Hiện nay, một số quan điểm sai trái và thù địch thường sử dụng vấn đề BĐG và QCN như một “điểm tựa đạo đức” để công kích thể chế chính trị. Các luận điệu phổ biến gồm: (i) quy kết những hạn chế, bất cập trong thực tiễn thực hiện chính sách BĐG thành “bản chất của chế độ”; (ii) tuyệt đối hóa các mô hình giới của phương Tây và coi đó là “chuẩn mực duy nhất”; (iii) tách rời QCN khỏi chủ quyền quốc gia và vai trò quản lý của Nhà nước.

Những quan điểm này không chỉ sai về mặt khoa học mà còn có nguy cơ gây nhiễu loạn nhận thức xã hội, đặc biệt đối với thanh niên và các nhóm dễ bị tác động bởi các diễn ngôn nhân quyền và giới trên không gian truyền thông quốc tế.

Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực BĐG và QCN phải được hiểu là bảo vệ quan điểm phát triển vì con người, vì tiến bộ và công bằng xã hội, đồng thời đấu tranh với những cách diễn giải mang tính chính trị hóa, cực đoan hóa vấn đề giới và quyền.

6. Vai trò của các cơ quan nghiên cứu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về bình đẳng giới và quyền con người

Đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực này thể hiện trước hết ở việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quan điểm BĐG và QCN theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, cần tập trung vào ba hướng nghiên cứu chủ yếu:

Thứ nhất , nghiên cứu lý luận về mối quan hệ giữa BĐG, QCN và phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, qua đó khẳng định tính khoa học và nhân văn của đường lối của Đảng.

Thứ hai , tổng kết thực tiễn thực hiện chính sách BĐG và bảo đảm QCN, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trên cơ sở phân tích khách quan, tránh cả khuynh hướng tô hồng lẫn khuynh hướng phủ định sạch trơn.

Thứ ba , cung cấp luận cứ khoa học cho việc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong lĩnh vực giới và nhân quyền bằng lập luận có hệ thống, thay vì chỉ dừng lại ở mức độ phản ứng tình huống.

Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu:

“Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm rõ những vấn đề mới nảy sinh; nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, bảo đảm tính khoa học, tính chiến đấu và tính thuyết phục” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).

7. Một số định hướng và giải pháp

Một là , tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về BĐG và QCN như một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển con người và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hai là , đổi mới phương thức tuyên truyền và giáo dục về BĐG và QCN theo hướng khoa học, đối thoại, tránh cực đoan hóa hoặc giản đơn hóa vấn đề.

Ba là , tăng cường vai trò của các cơ quan nghiên cứu trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho công tác đấu tranh tư tưởng trong lĩnh vực giới và nhân quyền.

Bốn là , gắn thực hiện chính sách BĐG với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, qua đó củng cố niềm tin xã hội đối với mục tiêu phát triển vì con người.

8. Kết luận

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực BĐG và QCN là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh hiện nay. Đây không chỉ là quá trình đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, mà còn là quá trình khẳng định và lan tỏa bản chất nhân văn của con đường phát triển mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Việc gắn nghiên cứu và thực hiện BĐG và đảm bảo QCN với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ góp phần củng cố niềm tin xã hội đối với chế độ, đồng thời nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong một lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp nhưng có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

Trịnh Thái Quang


Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

4. Hồ Chí Minh toàn tập . Tập 12. (2011). Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, trang 300.

5. Joshi, D., & Thimothy, R. (2018). Long-term impacts of parliamentary gender quotas in a single-party system: Symbolic co-option or delayed integration?.  International Political Science Review , 40, 591 - 606.  https://doi.org/10.1177/0192512118772852 .

6. Klasen, S., Le, T., Pieters, J., & Silva, M. (2020). What Drives Female Labour Force Participation? Comparable Micro-level Evidence from Eight Developing and Emerging Economies.  The Journal of Development Studies , 57, 417 - 442.  https://doi.org/10.1080/00220388.2020.1790533 .

7. Mac Hoai Thuong. (2024). Women’s Political Rights in International Law and Practice in Vietnam.  Law and World 10 (30), 8-21.  https://doi.org/10.36475/10.2.1

8. Vu, L., Tran, T., & Phung, T. (2021). Children and female labor market outcomes in Vietnam.  Heliyon , 7.  https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2021.e07508 .

1 2 3 4 5 
Tin mới
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com