Thứ Năm, 29/08/2024 05:05 SA
Sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
BÙI MẠNH HÙNG - LÊ THẾ PHONG
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Tóm tắt: Quan điểm về phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm phát triển bền vững… trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong tình hình mới với tinh thần nhất quán đó là: Tất cả cho con người, vì con người, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Từ khóa: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con người.
Abstract: The viewpoint on maximizing the human factor, considering people as the center, the most important subject and resource, and the goal of development; taking Vietnamese cultural values and people as the foundation, the important endogenous strength to ensure sustainable development...given the 13th National Party Congress Resolution is the creative application and development of Marxism - Leninism and Ho Chi Minh thought into the reality of Vietnam in the new situation, with a consistent spirit th: It’s all about peoples, for peoples because people are both the goal and the driving force of development.
Keywords: Marxism-Leninism, Ho Chi Minh’s Thought, Human.
Ngày nhận bài: 08/02/2023; ngày gửi phản biện: 09/02/2023; ngày duyệt đăng bài: 28/3/2023.
1. Mở đầu
Nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 33). Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt, vận dụng trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về vấn đề con người vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Chính vì vậy, trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước luôn nhất quán với tinh thần: Coi con người là vốn quý nhất, là mục tiêu, động lực, là yếu tố quyết định sự
1.1. Quan điểm về con người trong Nghị quyết Đại hội XIII thể hiện sự vận dụng,phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Trải qua các kì đại hội, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của con người Việt Nam ngày càng sáng rõ, đầy đủ và sâu sắc hơn, có sự bổ sung, phát triển phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi mới từ thực tiễn phát triển đất nước. Trong sự nghiệp đổi mới, mặc dù chủ trương gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển, xây dựng con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho nhiều chương trình, kế hoạch phát triển nhưng “lĩnh vực xây dựng con người còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Tiêu cực xã hội và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xa rời dân, vô cảm trước những đề nghị chính đáng của dân, mất dân chủ là nghiêm trọng, đáng lo ngại” (Hội đồng Lý luận Trung ương, 2020, tr. 159). Từ thực trạng đó, nhằm tiếp tục khẳng định, kế thừa và phát triển tinh thần từ các kì đại hội trước, Đại hội lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 215 - 216). Quan điểm này của Đảng không những thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược mà còn là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người ở Việt Nam hiện nay trong điều kiện mới. Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Đảng trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về con người được thể hiện trên một số quan điểm chủ yếu:
Một là, quan điểm “nguồn lực con người là quan trọng nhất”.
Nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, một trong những nội dung hết sức quan trọng đó là huy động sức mạnh, sức sáng tạo của mọi nguồn lực, trong đó đặc biệt coi trọng nguồn lực con người, Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr.110 - 111). Quan điểm này có cơ sở xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí, vai trò của con người đối với sự phát triển của lịch sử. Với phương pháp tiếp cận khoa học, cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã xuất phát từ những con người hiện thực, cụ thể, cảm tính và khẳng định, lịch sử nhân loại bắt đầu từ đó: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra… Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 3, tr. 28 - 29) và “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” (V.I.Lênin, 2005, tập 38, tr. 430). Tiếp thu, phát triển sáng tạo những tư tưởng đó, Hồ Chí Minh khẳng định, con người không chỉ có vai trò là động lực to lớn khi: “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và phát triển” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 8, tr. 247), mà con người còn là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực với tinh thần: “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 15, tr. 280).
Trên cơ sở lí luận khoa học, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã tiếp tục khẳng định và chỉ rõ hơn vị trí, vai trò của các nguồn lực đối với sự phát triển đất nước. Với quan điểm “nguồn lực con người là quan trọng nhất”, Đảng đã khẳng định nguồn lực con người phải được đặt ở vị trí trung tâm, có vai trò tác động, khơi dậy và phát huy tiềm năng của các nguồn lực khác. Đây được xem là một trong những điểm nhấn nổi bật ở kì Đại hội lần này, không chỉ khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nguồn lực con người mà còn định hướng cho toàn bộ quá trình phát triển tiếp theo. Do đó, một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng chỉ ra, đó là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 96 - 97).
Đảng xác định “nguồn lực con người là quan trọng nhất” là có cơ sở khoa học, bởi vì con người chính là chủ thể sáng tạo của sự phát triển xã hội. Sự sáng tạo của con người là không có giới hạn và chỉ được phát huy khi con người được tự do. Cho nên, trong mọi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đều phải hướng vào “khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân được phát huy các năng lực tự do sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 262 - 263). Hơn nữa, trong công tác quản lí, phát triển xã hội phải hướng tới mục tiêu vì hạnh phúc của con người và phục vụ con người. Vì vậy, Đảng chủ trương: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lí, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 177). Trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, lần đầu tiên “hạnh phúc” được đề cập như là mục tiêu của sự phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân: “Thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 97). Đồng thời, trong các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kì, việc nâng cao “chỉ số hạnh phúc” của con người Việt Nam được xác định là một trong những nội dung quan trọng với quan điểm: “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lí phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 202).
Trước thực trạng “Việt Nam là một trong 5 quốc gia ở châu Á phải chịu nhiều hậu quả nhất do biến đổi khí hậu, nước biển dâng” (Tạ Ngọc Tấn và cộng sự, 2018, tr. 341) và “nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an ninh, an toàn con người chưa được quan tâm giải quyết triệt để” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 87), Đảng đã chủ động dự báo tình hình an ninh và phát triển của Việt Nam sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức, trong đó có “an ninh con người”: “Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, v.v. tiếp tục diễn biến phức tạp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 106 - 107). Do đó, quan điểm “nguồn lực con người là quan trọng nhất” còn khẳng định vấn đề “an ninh con người”, bảo vệ “an ninh con người” hiện nay phải được coi trọng và mang tính cấp thiết. Đây vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhằm ứng phó có hiệu quả với những thách thức, quản lí xã hội phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, Đảng chủ trương: “Tăng cường quản lí phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 147 - 148). Tiếp cận những quan điểm trên thấy rằng, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đặt ưu tiên cao hơn đối với các mục tiêu xã hội và mục tiêu phát triển con người, do con người và vì con người, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển. Đây không chỉ là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người mà còn là biểu hiện sinh động của đổi mới tư duy lí luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, quan điểm “phát triển con người toàn diện”.
Xuất phát từ việc nhận thức, đánh giá đúng vị trí, vai trò của nguồn lực con người, coi “nguồn lực con người là quan trọng nhất”, Đảng đã hướng tới vấn đề phát triển con người toàn diện với quan điểm: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 231). Như vậy, ở kì Đại hội lần này, Đảng đã thực sự quan tâm, coi trọng cả mặt sinh học và mặt xã hội trong “phát triển con người toàn diện”. Cơ sở của quan điểm này xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lênin khi khẳng định con người là một thực thể sinh học xã hội. Trong đó, mặt sinh học là tiền đề, điều kiện hình thành mặt xã hội của con người: “Giới tự nhiên - là thân thể vô cơ của con người, đời sống thể xác và đời sống tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tập 42, tr. 135). Đồng thời, giới tự nhiên còn là môi trường sống, tồn tại của con người, vì vậy “chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2002, tập 20, tr. 655). Coi trọng mặt sinh học nhưng mặt xã hội giữ vai trò quyết định đến sự hình thành, phát triển con người: “Những điều kiện tồn tại của con người, ngay từ khi con người tách ra khỏi loài vật theo nghĩa hẹp, thì hoàn toàn là chưa có sẵn, những điều kiện ấy trước hết phải được tạo ra bằng sự phát triển lịch sử tiếp theo đó. Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát ra khỏi trạng thái thuần túy loài vật; trạng thái bình thường của con người là trạng thái tương ứng với ý thức của họ và là trạng thái mà bản thân họ phải sáng tạo ra” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2002, tập 20, tr. 673). Với quan điểm duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định quan hệ giữa tự nhiên - con người - xã hội luôn là một chỉnh thể thống nhất không thể tách rời.
Tiếp thu, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả mặt sinh học và mặt xã hội của con người. Đối với mặt sinh học, Người đã chỉ ra quy luật sinh tồn của con người, khẳng định: “Con người ta đẻ ra, ai cũng lớn lên, già đi, rồi chết” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 13, tr. 277). Khi sinh ra, “người ta cũng muốn sung sướng, mạnh khỏe” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 124) và “dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời… Có thực mới vực được đạo, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 9, tr. 518). Tuy nhiên, ăn, uống, ngủ, nghỉ phải hợp lí, khoa học: “Chớ tắm nước lã nhiều quá. Chớ uống nước lã, chớ ăn no quá, chớ ngủ trưa nhiều” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 176). Do đó, Người đưa ra lời khuyên: “Phải rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh. Khỏe mạnh thì mới có đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước lợi dân” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 10, tr. 440). Người còn chỉ ra nguyên nhân của một số bệnh thường gặp chính là người dân chưa biết bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường sống trong sạch, lành mạnh. Người khẳng định: “… mình dù nghèo, ai cấm mình ăn ở sạch sẽ? Sạch sẽ tức là một phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 241). Người khẳng định không có gì quý bằng sức khỏe, có sức khỏe là có tất cả: “Sức người là vốn quý nhất của ta” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 13, tr. 70) và “giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 4, tr. 241). Người coi sức khỏe của con người là tài sản vô giá của đất nước, sức khỏe của nhân dân là yếu tố quyết định tới sự thịnh, suy hoặc sự tồn vong của quốc gia, dân tộc: “Mỗi người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 4, tr. 241). Không chỉ coi trọng mặt sinh học của con người, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ vai trò của sản xuất vật chất và giáo dục đối với sự phát triển nhận thức - mặt xã hội của con người: “Do sự sản xuất vật chất mà người ta hiểu biết dần dần các hiện tượng, các tính chất, các quy luật và mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên. Lại do hoạt động sản xuất mà dần dần hiểu rõ mối quan hệ giữa người này với người khác” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 7, tr. 121) và “Ngủ thì ai cũng như lương thiện/Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền/Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn/Phần nhiều do giáo dục mà nên” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3, tr. 413).
Xuất phát từ những chỉ dẫn khoa học và căn cứ vào thực tế khi “chênh lệch chỉ số sức khỏe giữa các vùng, miền còn lớn; tầm vóc và thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện; mất cân bằng giới tính có xu hướng gia tăng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập II, tr. 71). Nhằm giải quyết thực trạng này, vấn đề về dinh dưỡng, sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam đã được Đảng đặc biệt quan tâm: “Nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam, bảo đảm toàn dân đều được quản lí, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe. Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 151). Không chỉ chú trọng về mặt thể chất con người, Đảng còn đặc biệt chú ý đến chất lượng môi trường sống. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ý thức và trách nhiệm trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế như: Ý thức chấp hành pháp luật về quản lí, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường còn thấp. Vẫn để xảy ra một số sự cố môi trường gây hậu quả nghiêm trọng. Quản lí nhà nước về tài nguyên, môi trường trên một số mặt còn lỏng lẻo, bất cập. Xu hướng chạy theo lợi nhuận và lợi ích trước mắt trong khai thác tài nguyên chưa được khắc phục. Chậm chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới, tiết kiệm. Chất lượng môi trường tiếp tục xuống cấp. Các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học tiếp tục suy giảm, v.v.. Vì vậy, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng xác định: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; quản lí, khai thác, sử dụng hợp lí, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 116 - 117). Đồng thời với bảo vệ môi trường sống, việc phát triển môi trường xã hội ở Việt Nam cũng cần được quan tâm theo hướng: “Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 116). Đó là những định hướng cơ bản bảo đảm cho con người Việt Nam được phát triển tự do, toàn diện, có đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Đây là một bước tiến quan trọng về tư duy lí luận của Đảng trong công cuộc phát triển đất nước nhằm hướng tới “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 47).
Ba là, quan điểm về “xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”.
Trong khi đưa ra quan điểm về phát triển con người toàn diện, không phải ngẫu nhiên Đảng lại nhấn mạnh, chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam với quan điểm: “Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 143). Cơ sở cho quan điểm này xuất phát từ lí luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong lí luận đó, con người được xác định là trung tâm của sự phát triển. Các mối quan hệ cơ bản quyết định sự vận động, phát triển của xã hội đều gắn với con người. Sức mạnh của con người hiện thực và hoạt động của họ đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa. Vấn đề trung tâm phát triển văn hóa của các hình thái kinh tế - xã hội là phát triển tự do của con người trong phát triển tự do của xã hội, của mọi người: “Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa lại là một bước tiến tới tự do” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2002, tập 20, tr. 164). Bởi vì, trình độ giải phóng xã hội luôn được thể hiện ở sự tự do của cá nhân con người. Cá nhân được giải phóng sẽ tạo ra động lực cho giải phóng xã hội và đến lượt mình, giải phóng xã hội lại trở thành điều kiện thiết yếu cho sự giải phóng cá nhân: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 4, tr. 628). Cụ thể hóa quan điểm đó vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trích dẫn: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 4, tr. 1). Đồng thời khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 4, tr. 4).
Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với thực tế do “chưa xác định đúng vai trò của văn hóa trong xây dựng con người mới, có chiều hướng chỉ coi trọng chức năng giải trí của văn hóa” (Hội đồng Lý luận Trung ương, 2020, tr. 350) và “các nguồn lực tiềm năng sáng tạo của nhân dân chưa được phát huy tốt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Hội đồng Lý luận Trung ương, 2020, tr. 354), Đảng đưa ra quan điểm “xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”. Đây là quá trình biện chứng bao hàm không chỉ bảo tồn giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc không để lai căng, mai một, mất gốc mà còn chủ động, tích cực tiếp thu tinh hoa văn hóa, đạo đức nhân loại để bổ sung, làm giàu giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam phù hợp với thực tiễn đất nước. Quá trình “xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” phụ thuộc rất lớn vào việc “nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kì mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 143). Xây dựng hệ giá trị văn hóa phải hướng đến bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức con người phù hợp thời kì mới, trong đó đức, trí, thể, mĩ là nội dung trọng tâm, cốt lõi để góp phần hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia. Bám sát vào thực tế để xác định những nội dung, giải pháp phù hợp nhằm xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với gìn giữ, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam đáp ứng điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Từ đó, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, xác lập động lực tinh thần, phát huy sức mạnh con người Việt Nam trong xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Với quan điểm con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững, Đảng đã khẳng định vai trò, vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, tạo cơ sở để xây dựng hệ giá trị văn hóa gắn kết chặt chẽ với xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam. Đi đôi với đường lối tiếp tục đổi mới phát triển kinh tế, Đảng nhấn mạnh việc: “Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 143).
Với tư cách là chủ thể, là nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển, xây dựng con người Việt Nam càng phải đặt ra việc phát huy giá trị văn hóa gắn liền với giữ gìn, bảo vệ, hoàn thiện hệ giá trị chuẩn mực con người và khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, sức sáng tạo của con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, quan hệ văn hóa, thiết chế văn hóa đều hướng vào bổ sung, hoàn thiện hệ giá trị, chuẩn mực và bồi đắp cho con người phát triển toàn diện cả về phẩm chất, năng lực; củng cố tình yêu quê hương, đất nước, giá trị nhân văn, tính cố kết cộng đồng, ý thức, trách nhiệm, đạo đức xã hội, sống và làm việc theo pháp luật, quyết tâm vượt mọi khó khăn, thử thách, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp. Những hoạt động đó nhằm hướng tới: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 115 - 116).
Bốn là, quan điểm “phát huy tối đa nhân tố con người”.
Tiếp cận xã hội đi từ nền tảng vật chất, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, sản xuất vật chất có vai trò to lớn, là cơ sở, điều kiện khách quan quyết định sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội: “Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may mắn lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại sản xuất” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1998, tập 34, tr. 241). Như vậy, để sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống con người và bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của xã hội đòi hỏi phải phát huy tối đa nhân tố con người: “… loài vật chỉ lợi dụng giới tự nhiên bên ngoài và gây ra những biến đổi trong giới tự nhiên, chỉ đơn thuần do sự có mặt của nó thôi; còn con người thì do đã tạo ra những biến đổi đó mà bắt giới tự nhiên phải phục vụ những mục đích của mình, mà thống trị giới tự nhiên. Và chính đó là sự khác nhau chủ yếu cuối cùng giữa con người và các loài vật khác” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2002, tập 20, tr. 654). Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng: “Có lực lượng dân chúng việc to tát đến mấy cũng làm được. Không có, việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 335).
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã có những chủ trương, xác định khâu đột phá chiến lược về phát triển nguồn lực con người, phát triển nguồn nhân lực. Theo đó, nhằm thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thúc đẩy thực hiện chuyển đổi số, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình “Đào tạo, đào tạo lại nâng cao kĩ năng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” và Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kĩ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện nhiều giải pháp, chính sách nhằm thu hút, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bước đầu đạt được kết quả quan trọng. Nhờ vậy, nguồn nhân lực của nước ta được tăng cường cả về quy mô và chất lượng. Tuy nhiên, căn cứ vào số liệu thống kê hàng năm cho thấy, Việt Nam đã thực sự bước vào giai đoạn dân số vàng tính từ năm 2007 và hiện nay “cơ cấu dân số đã bước vào giai đoạn già hóa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập II, tr. 71). Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, thời kì dân số vàng của Việt Nam sẽ kéo dài trong khoảng 34 năm và kết thúc vào năm 2041. Như vậy, mặc dù chúng ta đã trải qua hơn 15 năm trong thời kì cơ cấu dân số vàng, nhưng thực tế cho thấy giá trị thặng dư, hiệu suất kinh tế chưa tương xứng với số lượng lao động hiện có của cả nước. Điều này thể hiện rõ ở việc “so sánh năng suất lao động của Việt Nam đang thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực Đông Nam Á: chỉ bằng 7,0% của Singapore, bằng 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của Indonesia; 56,7% của Philippines và 87,4% so với Lào” (Lê Doãn Sơn, 2018). Trên cơ sở thực tế đó, để đạt được mục tiêu đến năm 2045 nước ta trở thành “nước phát triển, thu nhập cao”, Đảng chủ trương “phát huy tối đa nhân tố con người” bằng cách: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập II, tr. 324 - 325). Theo đó, động viên, cổ vũ, khích lệ nhân dân phát huy hết năng lực sáng tạo của bản thân để khởi nghiệp, sản xuất, kinh doanh, xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.
Để “phát huy tối đa nhân tố con người” đòi hỏi phải có những cơ chế, chính sách phù hợp. Tuy nhiên, trong thực tiễn, “cơ chế và chính sách... còn nặng về hành chính hóa, chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy sức sáng tạo, thu hút nhân tài” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 83). Vì vậy, Đảng đã chỉ ra nhiều nhiệm vụ mang tính cấp bách, trong đó tập trung: “Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 47). Trước mắt, cần tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ chế phát huy dân chủ trong hệ thống chính trị cũng như ngoài hệ thống chính trị, đặc biệt là cơ chế phát huy dân chủ cơ sở; cơ chế trọng dụng, thu hút người tài, đức; cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; cơ chế khuyến khích, khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước; cơ chế tạo động lực để mọi cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, tận tụy phục vụ nhân dân. Để hoàn thiện đồng bộ các cơ chế thì nhất thiết phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đủ mạnh, đủ sức răn đe bởi đây là cơ sở, điều kiện pháp lí hình thành và hiện thực hóa các cơ chế. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay phải phản ánh được đầy đủ ý chí, nguyện vọng và hướng tới phục vụ nhân dân; lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh trong bối cảnh mới của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đồng thời, hệ thống pháp luật được xây dựng phải toàn diện, đồng bộ, có tính ổn định, dự báo cao, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn đất nước và dễ thực hiện. Để xây dựng, hoàn thiện đồng bộ các cơ chế thì việc hoàn thiện pháp luật cũng mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ chính là phải triển khai, áp dụng, thực thi các quy định pháp luật một cách nghiêm minh, đồng bộ, thống nhất trong thực tế để các cơ chế mới có thể vận hành thuận lợi, hiệu quả, “phát huy tối đa nhân tố con người” trong phát triển đất nước.
Việt Nam chưa phát huy được tối đa lợi thế của thời kì dân số vàng, mà “chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước” (Hội đồng Lý luận Trung ương, 2020, tr. 348) và trong đào tạo “còn nặng về lí thuyết, nhẹ về thực hành, chưa quan tâm đúng mức đến kĩ năng xã hội, kĩ năng sống và khả năng tự học, kĩ năng sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập II, tr. 70) dẫn đến “tỉ lệ người lao động làm các công việc không ổn định còn nhiều. Một bộ phận sinh viên sau tốt nghiệp khó tìm được việc làm, tỉ lệ lao động khu vực phi chính thức còn lớn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập II, tr. 71). Trước thực trạng đó, vấn đề cốt lõi là phải thực hiện chiến lược giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, phát triển con người, nguồn nhân lực chất lượng cao một cách toàn diện cả thể lực, trí lực, tâm lực. Nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo đó là đưa con người đạt đến những giá trị phù hợp với đặc điểm văn hóa và những yêu cầu mới đặt ra đối với con người Việt Nam để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng xác định: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kĩ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lí, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lí xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 231). Chủ trương coi trọng giáo dục, đào tạo để phát triển con người đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, trong đó khắc phục: “lối giáo dục hình thức, phù phiếm, hư danh, làm cho người dạy thường trực ý thức và thực hành trong công việc hàng ngày gắn chặt dạy chữ - dạy nghề và dạy người, làm cho người học biết nuôi dưỡng lòng tự trọng, phẩm giá con người, trách nhiệm với xã hội, với chính mình mà thực học, để có thực lực và trở thành thực tài” (Tô Huy Rứa, Hoàng Chí bảo, 2017, tr. 676) và “chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ;… Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mĩ, kĩ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 136 - 137). Đồng thời định hướng: “Ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lí và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 203 - 204). Như vậy, quan điểm Đại hội lần thứ XIII của Đảng về “phát huy tối đa nhân tố con người” là hệ thống toàn diện và có tính cập nhật, đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực trong bối cảnh mới của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Những quan điểm đó được xem là một trong những điểm nhấn đặc biệt quan trọng về “phát huy nhân tố con người” thể hiện sự nhận thức mới của Đảng trên cơ sở vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn Việt Nam hiện nay.
3. Kết luận
Nghiên cứu các quan điểm trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thể hiện sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở, niềm tin khoa học vững chắc vào đường lối, chủ trương, tầm nhìn chiến lược của Đảng trong xây dựng, phát huy nhân tố con người Việt Nam thời kì đổi mới, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, việc tiếp cận những điểm mới, sáng tạo trong quan điểm của Đảng về con người được đề cập trong Nghị quyết cho thấy rõ hơn giá trị nhân văn sâu sắc trong việc chúng ta kiên định lựa chọn, quyết tâm hướng đến xây dựng một xã hội “thực sự vì con người” (Nguyễn Phú Trọng, 2022, tr. 21) là hoàn toàn có cơ sở lí luận khoa học và phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Tài liệu tham khảo
-
C.Mác và Ph.Ăngghen. 1995. Toàn tập, tập 3. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
C.Mác và Ph.Ăngghen. 1995. Toàn tập, tập 4. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
C.Mác và Ph.Ăngghen.1998. Toàn tập, tập 34. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
C.Mác và Ph.Ăngghen. 2000. Toàn tập, tập 42. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
C.Mác và Ph.Ăngghen. 2002. Toàn tập, tập 20. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
Hồ Chí Minh. 2011. Toàn tập, tập 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 13, 15. Nxb. Chính trị quốc gia -
Sự thật. Hà Nội.
-
Hội đồng Lý luận Trung ương. 2020. 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
Hội đồng Lý luận Trung ương. 2021. Những điểm mới trong các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Nxb. Lý luận Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo. 2017. Nghiên cứu chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
Lê Doãn Sơn. 2018. “Xây dựng và phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam”, (http://www.lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-lyluan/item/2715-xay- dung-va-phat-huy-nguon-luc-con-nguoi-o-viet-nam.html).
-
Tạ Ngọc Tấn, Phạm Thành Duy, Đoàn Minh Huấn. 2018. An ninh phi truyền thống -
Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn. Nxb. Lí luận Chính trị. Hà Nội.
-
Nguyễn Phú Trọng. 2022. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
-
V.I. Lênin. 2005. Toàn tập. tập 38. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội.
| |
-
Đang online:
1
-
Hôm nay:
1
-
Trong tuần:
1
-
Tất cả:
1
|