Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số

ĐÀO THỊ MINH HƯƠNG

Viện Nghiên cứu Con người

 

Tóm tắt: Quá trình già hóa dân số của Việt Nam diễn ra sớm với tốc độ nhanh. Sự thay đổi nhân khẩu học này không chỉ do giảm tỉ lệ tử vong và tăng tuổi thọ mà phần lớn do giảm mạnh tỉ suất sinh trong hai thập niên qua. Từ góc độ cá nhân, quá trình già hóa làm thay đổi các đặc trưng về mặt sinh học, dẫn đến hạn chế các chức năng nghe, nhìn, vận động, làm gia tăng các loại bệnh tật và nguy cơ tử vong ở nhóm người cao tuổi. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tổn hại về mặt tinh thần, tính tự chủ và độc lập trong cuộc sống. Từ góc độ xã hội, già hóa dân số diễn ra sớm với tốc độ nhanh cũng đặt ra những thách thức cho hệ thống an sinh xã hội, lao động việc làm, giao thông, khu vui chơi giải trí, v.v. và đặc biệt là hệ thống chăm sóc sức khỏe. Những chuyển đổi nhân khẩu học này về cơ bản đòi hỏi phải chuyển trọng tâm chăm sóc sức khỏe từ khám, chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe phòng ngừa bệnh, phát hiện sớm, quản lí, điều trị bệnh toàn diện và kiểm soát bệnh đối với toàn dân và đặc biệt là đối với người cao tuổi.

Từ khóa: người cao tuổi, chăm sóc sức khỏe, già hóa dân số.

Abstract: Vietnam's population aging process is occurring early and at a rapid pace. This demographic change is due not only to reduced mortality and increased life expectancy but is largely due to sharp reductions in fertility over the past two decades. From an individual perspective, the aging process changes biological characteristics, leading to limited hearing, vision, and movement functions, increasing diseases and the risk of death in groups of the elderly. This is the main cause of mental damage, autonomy and independence in life. From a social perspective, the rapid population aging also poses challenges for the social security system, employment, transportation, entertainment areas, etc. and especially the health care system. These demographic shifts fundamentally require shifting the focus of health care from medical examination and treatment to preventive health care, early detection, management, treatment, and comprehensive disease control for the entire population and especially for the elderly.

Keywwords: elderly people, health care, aging population.

Ngày nhận bài:13/6/2023; ngày gửi phản biện: 14/6/2023; ngày duyệt đăng bài: 03/8/2023.

Đặt vấn đề

Lão hóa là một quá trình tự nhiên, đặt ra thách thức đặc biệt cho mọi thành phần trong xã hội. Mặc dù định nghĩa chính xác về nhóm tuổi người cao tuổi (NCT) còn gây tranh cãi, nhưng nó được chấp nhận là những người có độ tuổi từ 60 trở lên. Theo sự phân chia của Tổ chức Y tế thế giới, các lứa tuổi của NCT như sau: Từ 45 - 59 tuổi là người trung niên; từ 60 - 74 tuổi là người có tuổi; từ 75 - 90 tuổi là người già; trên 90 tuổi là người già sống lâu. Như vậy, từ 60 tuổi trở lên được coi là NCT (WHO, 2013a). Một xã hội khi có tỉ lệ NCT từ 65 tuổi trở lên chiếm 7% tổng dân số trở lên là dân số bước vào giai đoạn già hóa, chiếm từ 14% trở lên là dân số già và từ 21% trở lên là dân số siêu già, tương đương với nhóm tuổi từ 60 trở lên là 10%, 20%, 30% trên tổng dân số (VCCI, UNFPA, 2021).

Với sự cải thiện tốt lên của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tuổi thọ trung bình trên toàn thế giới đã tăng lên, cùng với đó là giảm tỉ suất sinh cho nên tỉ lệ NCT trên tổng dân số thế giới tăng lên nhanh chóng. Trên thế giới, theo dự báo từ năm 2000 đến năm 2050, tỉ lệ dân số trên 60 tuổi sẽ tăng gấp đôi, từ 11% lên 22%. Nghĩa là sau hơn 50 năm, dân số toàn thế giới sẽ bước vào giai đoạn già. Số lượng người từ 60 tuổi trở lên (tuổi 60+) được dự báo sẽ tăng lên 1.200 triệu người vào năm 2025, 1.400 triệu người vào năm 2030 và 2.100 triệu người vào năm 2050. Hơn nữa, đến năm 2025, gần 75% dân số cao tuổi này sẽ sống ở các nước đang phát triển, trong đó có ASEAN (WHO, 2013b). Tại các nước ASEAN, vào năm 2016 có gần 60 triệu NCT, chiếm 9,3% tổng dân số, nhưng dự báo vào năm 2050 sẽ tăng lên 24% tổng dân số và trở thành khu vực dân số già (WHO, 2016). Các quốc gia khu vực này vốn đã có hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe quá tải, nên việc chăm sóc sức khỏe cho NCT càng trở nên thách thức hơn trong tương lai. Những chuyển đổi nhân khẩu học này về cơ bản đòi hỏi phải chuyển trọng tâm chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu nói chung và ở khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam nói riêng, từ việc khám, chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe phòng ngừa bệnh, phát hiện sớm, quản lí và điều trị bệnh đối với toàn dân và đặc biệt là đối với NCT.

Mặc dù vẫn trong thời kì dân số vàng nhưng Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, với số người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10,1% dân số và người từ 65 tuổi trở lên chiếm 7,2% (Tổng cục Thống kê - TCTK, 2011). Quá trình già hóa dân số của Việt Nam diễn ra sớm với tốc độ nhanh. Trong khi các nước phát triển mất nhiều thập niên, có nước hàng thế kỉ mới chuyển đổi từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già như: Pháp là 115 năm; Australia là 73 năm, v.v. nhưng ở Việt Nam thì chỉ khoảng 26 năm, khi mà theo dự báo vào năm 2036, người từ 60 tuổi trở lên sẽ chiếm khoảng 20% dân số (Ngân hàng Thế giới - WB, 2016). So với các quốc gia ASEAN khác, từ năm 2000, Việt Nam đã có tỉ lệ dân số NCT ở vị trí thứ ba, sau Singapore và Thái Lan. Đến năm 2035, với tỉ lệ NCT chiếm gần 20% dân số, Việt Nam là quốc gia có tốc độ “già hóa” đứng thứ ba trong khu vực ASEAN (TCTK, 2015). Với tốc độ già hóa dân số như hiện nay, Việt Nam sẽ nằm trong tốp 10 quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trên thế giới (Thế Phong, Thanh Lương, 2023).

Trong vòng 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2019, NCT của Việt Nam (từ 60 tuổi trở lên) tăng hơn 5 triệu người, từ 6,1 triệu người lên 11,41 triệu người, tương ứng từ 8,1% dân số lên 11,86% dân số (TCTK, 2010, 2021c), hiện nay có khoảng 13 triệu NCT, chiếm khoảng 12,8% và ngày càng tăng nhanh (Diệp Trương, 2023). Dự báo tỉ lệ NCT sẽ tăng lên 16,53% vào năm 2029 và lên 24,88% vào năm 2049 (TCTK, 2020). Đến năm 2038, dự báo số lượng NCT ở Việt Nam sẽ vượt quá số lượng trẻ em. Bên cạnh đó, dân số trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm, trong vòng 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2019, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động (từ 15 - 59 tuổi) giảm từ 66,86% (năm 2009) xuống còn 64,85% (năm 2019) (TCTK, 2020). Sự thay đổi nhân khẩu học này ở Việt Nam không chỉ do giảm tỉ lệ tử vong1 và tăng tuổi thọ2 mà phần lớn do giảm mạnh tỉ suất sinh trong hai thập niên vừa qua3.

Từ góc độ cá nhân, quá trình già hóa làm thay đổi các đặc trưng về mặt sinh học, dẫn đến hạn chế các chức năng nghe, nhìn, vận động, làm gia tăng các loại bệnh tật và nguy cơ tử vong ở nhóm NCT. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tổn hại về mặt tinh thần, tính tự chủ và độc lập trong cuộc sống. Từ góc độ xã hội, tuổi thọ của người dân được nâng cao là thành tựu của chính sách kinh tế xã hội. Tuy nhiên, già hóa dân số diễn ra sớm với tốc độ nhanh cũng đặt ra những yêu cầu cho hệ thống y tế, hệ thống an sinh xã hội, lao động việc làm, giao thông, khu vui chơi giải trí, v.v. và đặc biệt là hệ thống chăm sóc sức khỏe cần phải thích ứng kịp thời.

1.Người cao tuổi ở Việt Nam: Họ là ai

Hiện cả nước có khoảng 13 triệu NCT, chiếm trên 13% dân số. Trong đó, 1,97 triệu người từ 80 tuổi trở lên, trên 7,5 triệu người là nữ, 8,1 triệu người sống ở nông thôn (Diệp Trương, 2023). Tỉ lệ NCT thuộc hộ nghèo khoảng 25% (năm 2016), tỉ lệ NCT thuộc hộ nghèo đa chiều chiếm 23,2% (năm 2017), và năm 2019, tỉ lệ NCT sống trong các hộ nghèo là 7,4% (UNFPA, VNCA, 2019; VCCI, UNFPA, 2021) và giảm xuống 3,6% tỉ lệ NCT thuộc hộ nghèo, 11,6% tỉ lệ NCT thuộc hộ cận nghèo vào năm 2023 (Diệp Trương, 2023), nhưng vẫn cao hơn bình quân chung của cả nước. Tình trạng NCT không có vợ/chồng chiếm tỉ lệ cao, trong đó số phụ nữ cao tuổi góa chồng chiếm tới hơn 80% ở tất cả các nhóm tuổi. Tỉ lệ NCT chỉ sống với vợ/chồng cũng chiếm 14,1% vào năm 2019 ở cả hai khu vực, đặc biệt là ở khu vực nông thôn (VCCI, UNFPA, 2021). Điều này cho thấy, NCT đang có xu hướng không sống cùng con ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Một trong những lí do của xu hướng này có thể do quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và xu hướng di chuyển tạm thời hay di cư lâu dài của các cặp vợ chồng trẻ từ nông thôn ra thành thị.

Năm 2019, 35% NCT vẫn đang làm việc (Tổng cục Thống kê, 2021). Trong đó có tới 60% NCT trong độ tuổi từ 60 - 69 đang tiếp tục làm việc; tỉ lệ này ở nhóm từ 70 - 74 tuổi giảm xuống còn khoảng 40% và ở nhóm từ 80 - 84 tuổi là khoảng 20%. Tuy nhiên, phần lớn trong số họ là lao động giản đơn hoặc lao động gia đình. Phụ nữ cao tuổi có tỉ lệ làm việc thấp hơn nam giới cao tuổi; NCT thành thị có tỉ lệ làm việc thấp hơn ở nông thôn (TCTK, 2021b). Vấn đề chính NCT gặp phải là đảm bảo thu nhập dành cho nhu cầu chi tiêu hàng ngày và phục vụ cho khám, chữa bệnh, đặc biệt là NCT không có lương hưu hay trợ cấp bảo hiểm xã hội. Tính đến cuối năm 2022, toàn quốc có khoảng 14,4 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu (từ 55 tuổi trở lên đối với nữ; từ 60 tuổi trở lên đối với nam). Tuy nhiên, tổng số người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội là hơn 5,1 triệu người, chiếm khoảng 35% tổng số người sau độ tuổi nghỉ hưu (PV, 2023). Số NCT không có lương hưu và trợ cấp xã hội chiếm 65% đang là khoảng trống về an sinh xã hội. Điều này khẳng định lại kết quả nghiên cứu NCT của UNFPA vào năm 2021, rằng các nguồn thu nhập của NCT bao gồm thu nhập qua làm việc, lương hưu, tiết kiệm và hỗ trợ từ vợ/chồng, hỗ trợ từ con cháu và các khoản trợ cấp hàng tháng từ nhà nước. Trong đó chủ yếu là hỗ trợ từ con cháu đối với người sống ở khu vực nông thôn và từ lương hưu đối với người sống ở thành thị (UNFPA, 2021).

Về tầm vóc, thể lực và sức bền của người Việt Nam chậm được cải thiện nên khi cao tuổi, sức khỏe người Việt Nam suy yếu nhanh chóng, có đến 67,2% NCT có tình trạng sức khỏe yếu và rất yếu. Tuy tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 8,5 tuổi kể từ năm 1989 (65,2 tuổi) so với (73,7 tuổi) năm 2022, cao hơn mức trung bình của khu vực ASEAN nhưng tuổi thọ khỏe mạnh còn thấp so với nhiều nước (chỉ đạt 65 tuổi) (TCTK, 2022). Cụ thể, phụ nữ có trung bình khoảng 11 năm sống có bệnh tật và nam giới khoảng 8 năm. Có thể nói, những khó khăn, thiếu thốn mà NCT gặp phải đã ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng sống của NCT cả ở hiện tại và trong tương lai.

NCT với sức khỏe sinh học suy yếu, sức đề kháng giảm, thường mắc nhiều bệnh. Số liệu qua các cuộc điều tra về NCT cho thấy mô hình bệnh tật chủ yếu của NCT là các bệnh không lây nhiễm. Trung bình 1 NCT mắc tới 7 bệnh mạn tính, hầu hết phải điều trị suốt đời. Các hội chứng đặc trưng dễ gặp ở NCT như suy giảm nhận thức (bệnh Alzheimer), suy dinh dưỡng, giảm hoạt động chức năng, lú lẫn, trầm cảm, loét. Việc mắc nhiều bệnh đồng thời nên dễ bị tai biến do điều trị, giảm sức đề kháng với bệnh tật, khả năng hồi phục sức khỏe kém đòi hỏi NCT phải được điều trị và chăm sóc một cách đặc biệt4. Tỉ lệ tăng huyết áp ở NCT đã tăng từ 20% năm 2003 lên 45,6% vào năm 2011 và 52,6% năm 2019. Những bệnh thường gặp tiếp theo ở NCT là viêm khớp (37,6%), tim mạch (20,3%). Một số bệnh khác như ung thư, phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) cũng phổ biến và tăng cao. Tỉ lệ bệnh đái tháo đường cũng tăng gần 3 lần ở phụ nữ cao tuổi (5% năm 2011 so với 14,3% năm 2019) và tăng 1,25 lần đối với nam giới cao tuổi (6,8% năm 2011 so với 8,5% năm 2019) (VCCI và UNFPA, 2021).

NCT có tỉ lệ khuyết tật cao và tỉ lệ này tăng theo tuổi. Người càng cao tuổi, tỉ lệ gặp khó khăn ở các chức năng (đi bộ, nghe, nhìn, nhớ, v.v.) càng cao. Các bệnh mạn tính phổ biến và các bệnh không lây nhiễm là nguyên nhân chính gây ra khuyết tật ở NCT (TCTK, 2021b). NCT gặp khó khăn về đi bộ chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là khó khăn nhìn và nghe. Tỉ lệ NCT gặp ít nhất một khó khăn trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL) tăng từ 28% trong số những người từ 60 - 69 tuổi lên hơn 50% trong số những người từ 80 tuổi trở lên (UNFPA, VNCA, 2019). Khoảng 27,97% NCT cần trợ giúp trong các hoạt động cơ bản như vệ sinh cá nhân, mặc quần áo, đi vệ sinh, di chuyển, đại, tiểu tiện không tự chủ, ăn uống. 90% số NCT cần trợ giúp trong các hoạt động có sử dụng công cụ, dụng cụ (IADL) như sử dụng điện thoại, mua bán, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo, sử dụng phương tiện giao thông5. Bên cạnh sự suy giảm về sức khỏe thể chất, một số nghiên cứu còn cho thấy NCT dễ bị cô đơn và cô lập, khó kết bạn hoặc gặp khó khăn khi tham gia các hoạt động cộng đồng.

2. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật. Chính vì vậy, chăm sóc sức khỏe NCT không chỉ bao gồm các chăm sóc y tế, chăm sóc bệnh tật thể chất và tâm thần mà còn là các dịch vụ chăm sóc xã hội như dịch vụ hỗ trợ hoạt động sống cơ bản hàng ngày, cũng như các dịch vụ nhằm giúp tăng cường sự tham gia của NCT và phát huy vai trò của họ trong các hoạt động xã hội.

NCT có xu hướng mắc nhiều chứng rối loạn mạn tính, sức đề kháng kém nên dễ mắc các bệnh lây nhiễm, khó hồi phục và cũng có thể có các vấn đề về nhận thức, xã hội hoặc hoạt động chức năng, cho nên họ có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn và sử dụng một lượng lớn các nguồn lực chăm sóc sức khỏe không tương xứng. Theo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2017, có 52,8 triệu lượt khám, chữa bệnh của NCT (chiếm tỉ lệ 31,4% số lượt khám, chữa bệnh trên toàn quốc), chi phí 35.500 tỉ đồng (chiếm tỉ lệ 40,2% tổng chi toàn quốc). Năm 2018, ước tính có khoảng 57 triệu lượt khám, chữa bệnh của NCT (chiếm khoảng 34% số lượt khám, chữa bệnh trên toàn quốc) (PV, 2019). Có thể nói, việc sử dụng nguồn lực y tế cho NCT thường cao gấp 4 đến 5 lần và chi phí điều trị cho NCT thường cao gấp 6 lần so với người trẻ khi họ chỉ chiếm gần 11% dân số vào năm 2017 - 2018 nhưng đã sử dụng tới hơn 40% chi phí điều trị mỗi năm và gần 35% tổng lượt khám, chữa bệnh. Đây chính là thách thức lớn cho Chính phủ trong việc bảo đảm khả năng tài chính nhằm chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT và đảm bảo cơ sở vật chất cũng như nguồn nhân lực của hệ thống y tế trong bối cảnh già hóa dân số sớm và nhanh ở Việt Nam. Bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, khuyến khích tư nhân tham gia dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT là hai trong những giải pháp để giảm thiểu rủi ro về mặt tài chính trong việc chăm sóc sức khỏe cho NCT cả từ góc độ cá nhân và xã hội (Giang, TL et al., 2021). Tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế với NCT ở nước ta hiện nay vào khoảng 95%6. Việc khoảng 95% NCT có thẻ BHYT (Phúc Minh, 2023) đã giúp NCT trong việc chi trả chăm sóc y tế, khi mà có tới khoảng 65% trong số người sau độ tuổi về hưu không có lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hàng tháng, trợ cấo hưu trí (PV, 2023); 70% NCT không có tích lũy vật chất; 62,3% NCT còn khó khăn, thiếu thốn; 10% NCT sống trong nhà tạm (VCCI, UNFPA, 2021).

2.1.Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại các tổ chức y tế chuyên về lão khoa và chăm sóc sức khỏe ban đầu tại tuyến cơ sở

Căn cứ vào những quy định chi tiết về tổ chức mạng lưới chăm sóc sức khỏe NCT trong Thông tư số 35/2011/TT-BYT, ngày 15/10/2011, số lượng các khoa Lão khoa và phòng khám Lão khoa tại các bệnh viện tỉnh và bệnh viện trung ương đã tăng theo thời gian. Tính đến cuối năm 2016, có 50 khoa Lão khoa tại các bệnh viện tỉnh và bệnh viện trung ương với 302 phòng khám Lão khoa trong tổng số hơn 800 bệnh viện trên cả nước (UBQG về NCT Việt Nam, 2019), đến năm 2022, cả nước có 106 khoa Lão khoa đã được thành lập tại các bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố và bệnh viện Trung ương; hơn 900 khoa khám bệnh có buồng riêng cho NCT; trên 10.000 giường điều trị nội trú ưu tiên cho NCT và có 1.791 nhân viên y tế được đào tạo về Lão khoa (Phương Thảo, 2020). Tuy vậy, theo Ủy ban quốc gia về NCT, số lượng bệnh viện có khoa Lão khoa trên cả nước so với tỉ lệ NCT vẫn còn rất thiếu. Cả nước mới chỉ có một bệnh viện đầu ngành chăm sóc cho NCT là Bệnh viện Lão khoa trung ương, được thành lập từ năm 1983; hiện chỉ có 49/62 tỉnh thành còn lại có khoa Lão khoa tại các bệnh viện đa khoa tỉnh hoặc phòng khám Lão khoa (VCCI, UNFPA, 2021). Có thể nói, hệ thống y tế chưa kịp thích ứng với quá trình già hóa dân số của Việt Nam. Bệnh viện Lão khoa và khoa Lão khoa, buồng khám riêng là nơi để NCT khám, điều trị bệnh, tuy nhiên, số lượng quá ít so với nhu cầu bệnh nhân đông, đặc biệt trong bối cảnh NCT tăng nhanh. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ y bác sĩ, nhân công y tế vẫn còn thiếu hụt ở các bệnh viện đã thành lập khoa Lão khoa. NCT ở nông thôn, đặc biệt các vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn trong kiểm tra sức khỏe định kì, được quản lí và được điều trị bệnh mạn tính tại hệ thống y tế chuyên biệt. Bệnh nhân lớn tuổi thường được gia đình đưa đến điều trị tại các bệnh viện tuyến trên trong tình trạng bệnh nặng.

Căn cứ Thông tư số 35/2011/TT-BYT về việc hướng dẫn các trạm y tế xã, phường, thị trấn: tổ chức khám, chữa bệnh cho NCT phù hợp với chuyên môn và chức năng, nhiệm vụ của trạm y tế, việc khám, chữa bệnh cho NCT cô đơn tại nơi cư trú đối với NCT bị bệnh nặng không thể đến khám, việc tổ chức khám bệnh định kì hàng năm cho NCT đã được triển khai ở nhiều địa bàn và dịch vụ khám, chăm sóc y tế tại nhà đã bắt đầu được hình thành, đặc biệt được chú trọng hơn nữa từ sau ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Chính giai đoạn trong và sau đại dịch COVID-19 cũng cho thấy bệnh nền của NCT và việc không được chăm sóc và điều trị kịp thời các bệnh mạn tính trong thời gian cách li là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ tử vong cao ở nhóm NCT so với các nhóm tuổi khác bị nhiễm virus. Có thể nói, hệ thống chăm sóc ban đầu thông qua mạng lưới trạm y tế tuyến xã, khám, chữa bệnh tại gia đình cho NCT nhằm phòng ngừa, phát hiện bệnh sớm, quản lí và điều trị bệnh đều đang ở các bước đầu tiên.

2.2.Chăm sóc tập trung (Trung tâm/nhà dưỡng lão)

Nhu cầu sống độc lập, tài chính độc lập, gia đình ít con, con cái không sống cùng bố mẹ, muốn được chăm sóc sức khỏe thường xuyên, muốn được tham gia hoạt động cùng với những NCT khác là một số lí do NCT lựa chọn sống tại các nhà dưỡng lão với các dịch vụ đầy đủ. Những NCT từ 60 - 74 tuổi, tuy có nhu cầu ở với con cái có thể vẫn còn cao nhưng ở tuổi cao hơn, nhu cầu được chăm sóc tổng thể, chuyên nghiệp sẽ tăng lên (Thảo Anh, Linh Trang, 2018). Hiện nay, Việt Nam có ba mô hình nhà dưỡng lão, gồm: Cơ sở do các tổ chức xã hội xây dựng, chủ yếu nuôi dưỡng những NCT có hoàn cảnh khó khăn; nhà dưỡng lão công lập do nhà nước hoàn toàn bảo trợ, chủ yếu chăm sóc những NCT cô đơn nghèo, không có người thân chăm sóc; nhà dưỡng lão do tư nhân tổ chức và vận hành theo cơ chế thị trường. Như vậy, nhà dưỡng lão tư nhân sẽ là mô hình cung cấp dịch vụ mà bất cứ NCT nào cũng có thể tiếp cận được khi có đủ tài chính. Tuy vậy, tài chính là rào cản cho cả nhà cung cấp dịch vụ và người có nhu cầu sử dụng dịch vụ7. Hiện có gần 2,7 triệu người hưởng lương hưu với mức trung bình 5,4 triệu đồng/tháng. Số tiền này mới chỉ đáp ứng hơn một nửa chi phí vào một viện dưỡng lão tầm trung, với điều kiện tự phục vụ bản thân và ở tập thể từ 4 - 8 người/phòng (Phan Dương, 2023). Điều này dẫn đến việc phần lớn thu nhập của NCT được chi trả cho chăm sóc sức khỏe. Nhận định này hoàn toàn phù hợp với phân tích từ các số liệu thống kê và báo cáo nghiên cứu, đối với NCT, nhu cầu dịch vụ chăm sức khỏe sẽ là ưu tiên hàng đầu, sau đó là sống độc lập (chăm sóc cộng đồng), tiếp đến là dịch vụ nâng cao đời sống tinh thần8.

Năm 2017, có khoảng 10.000 NCT (0,091% trong tổng dân số NCT) đang sống tại nhà dưỡng lão công lập và tư nhân. Đến năm 2019, cả nước có 102 cơ sở tổng hợp có phân khu chăm sóc NCT, trong đó chỉ có 32 cơ sở chuyên biệt chăm sóc người già trên cả nước và các viện dưỡng lão này phần lớn thuộc khu vực tư nhân (VCCI, UNFPA, 2021). Không chỉ thiếu về số lượng, các cơ sở dưỡng lão này phần lớn có cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện cho NCT, ví dụ không có máy phục hồi chức năng, nhân viên chăm sóc chưa có đủ kĩ năng chăm sóc thể chất và tinh thần cho NCT.

2.3.Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng

Chăm sóc sức khỏe NCT tại cơ sở y tế chuyên biệt là quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm thế giới cũng như thực tiễn thiếu hụt cơ sở y tế chuyên biệt ở Việt Nam và vai trò quan trọng của cách tiếp cận phòng ngừa, phát hiện sớm, quản lí và điều trị bệnh cho NCT, cho thấy cần đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe NCT tại cộng đồng và tại gia đình. Đây là một giải pháp rất phù hợp với NCT để bên cạnh việc tăng tuổi thọ là gia tăng năm sống khỏe mạnh về thể chất và thoải mái về tinh thần.

Hoạt động khám, chữa bệnh tại cộng đồng, tại gia đình cho mọi người trong đó có NCT của hệ thống y tế cũng được triển khai chính thức và mở rộng hơn từ năm 2013 với mô hình bác sĩ gia đình theo Đề án Bác sĩ gia đình giai đoạn 2013 - 2020, Thông tư số 21/2019/TT-BYT, ngày 21/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn thí điểm về y học gia đình. Quy chế phối hợp, chuyển tuyến và trao đổi thông tin phù hợp giữa các phòng khám bác sĩ gia đình với hệ thống khám, chữa bệnh trong quá trình quản lí bệnh nhân, gắn kết bệnh án điện tử, kết nối vào hệ thống bảo hiểm y tế là các nội dung đang tiếp tục được hoàn thiện. Mạng lưới cơ bản vẫn từ các nhóm phi chính thức. Năng lực chuyên môn, tiêu chuẩn dịch vụ, hành nghề, v.v. vẫn đang là những thiếu hụt rõ rệt (VCCI, UNFPA, 2021). Bên cạnh việc khám, chữa bệnh tại cộng đồng thông qua hệ thống y tế cơ sở, hiện nay ở Việt Nam, có một số mô hình dịch vụ chăm sóc NCT khác tại cộng đồng như: trung tâm tư vấn, câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe, trung tâm chăm sóc sức khỏe NCT ban ngày, công ty/trung tâm dịch vụ giúp việc nhà, v.v.. Trong các mô hình đang được triển khai, Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau là một mô hình có nhiều hoạt động chăm sóc sức khỏe, tinh thần và sinh kế. Tuy nhiên, mô hình này cũng đang gặp nhiều khó khăn do thiếu nhân lực được đào tạo, chi phí dịch vụ chăm sóc cao, hệ thống an sinh xã hội chưa thích ứng với già hóa dân số.

Chăm sóc sức khỏe NCT tại gia đình có vai trò rất lớn trong việc tăng cường sức khỏe cho họ. Việc các thành viên trong gia đình hỗ trợ, chăm sóc bố mẹ, ông bà trong hoạt động thể chất hàng ngày, trao đổi, trò chuyện, gắn kết giữa các thế hệ sẽ có tác dụng thúc đẩy khả năng hòa nhập vào xã hội, tạo sự thoải mái về thể chất cũng như nâng đỡ tinh thần NCT. Bên cạnh hỗ trợ thể chất và hỗ trợ tinh thần thì sự hỗ trợ tài chính từ người thân đối với NCT là cần thiết khi gần 65% NCT không có lương hưu và trợ cấp xã hội, chưa đến 15% NCT có tiết kiệm. Tuy vậy, gánh nặng chăm sóc người già đã dần được chuyển từ con cái sang khu vực công ở Việt Nam. Sự thay đổi này bắt đầu với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hạt nhân hóa gia đình và cuối cùng đã ảnh hưởng đến các giá trị gia đình truyền thống trong việc hỗ trợ cha mẹ lớn tuổi. Khi dân số ngày càng già, sự phụ thuộc của những NCT cũng sẽ tăng lên. Cho nên nếu những NCT không nhận được các hỗ trợ cần thiết từ gia đình để thực hiện các công việc hàng ngày thì mọi áp lực sẽ dồn lên xã hội.

3. Kết luận và kiến nghị

Kết luận

Tỉ lệ mắc các bệnh mạn tính, khuyết tật thể chất, bệnh tinh thần và các bệnh khác ở NCT cao hơn các lứa tuổi khác, cho nên không thể xem xét việc chăm sóc sức khỏe và các vấn đề liên quan đến sức khỏe của NCT một cách riêng biệt. Có rất nhiều yếu tố quyết định đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe NCT:

-Sự quan tâm của gia đình đối với NCT như: con cái không sống cùng bố mẹ, hay NCT không nhận được bất kì sự hỗ trợ thể chất nào trong các hoạt động hàng ngày; NCT cảm thấy cô đơn, căng thẳng tinh thần, cảm thấy bị bỏ rơi, bi quan vì bệnh tật;

-Sự quan tâm của xã hội đối với NCT (có chính sách hoặc không có chính sách hỗ trợ NCT: khu vực khám, chữa bệnh chuyên biệt cho người già, khu hoạt động thể chất phù hợp người già; tổ chức hoạt động xã hội phù hợp người già; chính sách bảo hiểm y tế và đơn giá khám, chữa bệnh cho người già; thông tin về quyền và các rủi ro mà người già có thể gặp phải trong cuộc sống hàng ngày; các vấn đề về thực phẩm và dinh dưỡng cho NCT);

-Những hạn chế về tài chính như giảm thu nhập khi nghỉ hưu, hoặc không có thu nhập khi hết khả năng lao động đối với người không có lương hưu đến mức có thể cản trở những nhu cầu cơ bản của cuộc sống như đủ dinh dưỡng, quần áo và chỗ ở, khám, chữa bệnh khi ốm đau;

-Các điều kiện của hệ thống chăm sóc sức khỏe (hầu hết các quốc gia đều thiếu hệ thống y tế, hệ thống bảo hiểm hiệu quả dành cho NCT cùng với những lo ngại về khả năng tiếp cận và sự bất cập trong hệ thống chăm sóc sức khỏe).

Các yếu tố trên đã gây ra tác động đáng kể đến chất lượng cuộc sống nói chung và chăm sóc sức khỏe nói riêng của NCT.

Hiện tại và trong thời gian tới, việc chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam đang và sẽ tiếp tục đối mặt với thách thức trong việc tăng thời gian sống khỏe mạnh cho NCT chứ không chỉ là tăng tuổi thọ thông qua tạo môi trường sống khỏe cho NCT, bao gồm:

-Thiếu hụt mạng lưới khám, chữa bệnh chuyên biệt (bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế, v.v.) dành cho NCT nhằm phát hiện bệnh sớm, quản lí và điều trị toàn diện; thiếu nguồn nhân lực chăm sóc NCT (bác sĩ, điều dưỡng lão khoa, người chăm sóc, v.v.).

-Thiếu hụt dịch vụ chăm sóc NCT nói chung và chăm sóc sức khỏe NCT nói riêng tại các trung tâm dưỡng lão hoặc tại cộng đồng;

-Thiếu cơ sở vật chất phục vụ rèn luyện thể chất cho NCT tại nơi ở;

-Tổ chức hoạt động xã hội nâng cao đời sống tinh thần cho NCT thông qua việc được khuyến khích tham gia và khẳng định vai trò của họ còn chưa phổ biến, đặc biệt là ở các vùng nông thôn;

-Gánh nặng chăm sóc sức khỏe NCT chuyển dần sang xã hội thay vì gia đình như trước đây.

Các thách thức này có nguyên nhân:

-Thứ nhất, tỉ lệ NCT và tuổi thọ ngày càng cao dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chăm sóc xã hội ở nhóm trung lão và cao lão ngày càng cao;

-Thứ hai, tỉ lệ sinh thấp và quy mô gia đình hai thế hệ và một thế hệ dẫn đến sự chăm sóc của người thân (con, cháu) dành cho NCT giảm đi;

-Thứ ba, nhiều NCT bắt đầu lựa chọn sống độc lập. Trong khi đó tỉ lệ NCT có tiết kiệm và lương hưu còn thấp và chỉ tập trung ở thành thị. Chính vì vậy, việc tăng cường chuyên môn cũng như cơ sở vật chất và nhân lực trong điều trị và chăm sóc sức khỏe cho NCT là một nhu cầu bức thiết và cần được quan tâm hơn.

Kiến nghị

Kiến nghị chính sách

Chăm sóc sức khỏe cho NCT đảm bảo chất lượng để phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị lâu dài, toàn diện và kiểm soát các vấn đề sức khỏe cho NCT là một thách thức đòi hỏi cách tiếp cận nhiều mặt, với sự hợp tác tích cực giữa các lĩnh vực y tế, phúc lợi xã hội, phát triển nông thôn/thành thị và pháp luật. Cần hoàn thiện và bổ sung khung pháp lí hướng tới già hóa khỏe mạnh, đặc biệt về bảo hiểm chăm sóc dài hạn.

Chương trình chăm sóc sức khỏe cho NCT nên bắt đầu bằng việc xây dựng một chính sách toàn diện để không chỉ bao gồm các khía cạnh y tế mà còn cả các yếu tố quyết định khác. Cam kết chính trị mạnh mẽ và hành động xã hội là bắt buộc để thực hiện hiệu quả chính sách chung ở cấp cơ sở.

Xây dựng chính sách mở rộng gói quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho NCT thông qua bảo hiểm y tế và các loại hình bảo hiểm chăm sóc sức khỏe mới, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho NCT, như khám sức khỏe định kì, dịch vụ hỗ trợ tư vấn sức khỏe, dịch vụ chăm sóc hỗ trợ tại nhà dưỡng lão, tại nơi cư trú, v.v.

Lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho NCT cần được xem như các lĩnh vực an sinh, phúc lợi xã hội, từ đó có sự can thiệp của nhà nước để hoạt động hiệu quả khi tăng khả năng tiếp cận của những người có nhu cầu. Cụ thể, xây dựng chính sách phát triển các dịch vụ chăm sóc người già gắn với cải cách hệ thống lương hưu và bảo hiểm xã hội (bảo hiểm chăm sóc). Cụ thể là các cơ sở dưỡng lão hoặc các trung tâm chăm sóc ban ngày (cung cấp các dịch vụ cho NCT) sẽ được xây dựng và điều hành dựa trên một phần lương hưu và bảo hiểm xã hội (bảo hiểm chăm sóc).

Hỗ trợ, tạo điều kiện, như có chính sách thuế ưu đãi, hỗ trợ về mặt bằng, phát triển nhân lực, hỗ trợ về quy chuẩn, có danh mục nghề cho người chăm sóc để họ được công nhận và được đào tạo, v.v. nhằm xây dựng, phát triển các trung tâm chăm sóc sức khỏe NCT tại cộng đồng và khuyến khích nhiều hơn các doanh nghiệp tư nhân tham gia dịch vụ chăm sóc NCT, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Phát triển các dịch vụ bảo hiểm y tế tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe.

Xây dựng và triển khai chính sách số hóa y tế chăm sóc NCT. Với sự tiến bộ của công nghệ thông tin, NCT tăng nhanh và đầu tư của chính phủ vào quá trình chuyển đổi số, Việt Nam có thể và cần ưu tiên đẩy nhanh quá trình số hóa y tế thông qua việc số hóa dữ liệu bệnh nhân, lưu trữ hình ảnh lâm sàng kĩ thuật số và tiếp theo có thể sử dụng AI để phân tích và chẩn đoán bệnh, đánh giá kết quả điều trị. Điều này đặc biệt quan trọng trong chăm sóc sức khỏe NCT do họ thường mắc nhiều bệnh cùng lúc và cần sự chăm sóc đồng thời của nhiều chuyên khoa, nhiều bác sĩ, việc số hóa dữ liệu và lưu trữ hình ảnh lâm sàng kĩ thuật số giúp cho việc kết nối và tiếp cận của các bác sĩ với thông tin tổng thể của bệnh nhân cao tuổi thuận tiện hơn.

Xây dựng và đưa vào thực hiện dịch vụ theo dõi sức khỏe từ xa. Mục tiêu của chính sách là cung cấp các dịch vụ y tế, bao gồm chăm sóc từ xa, tư vấn từ xa và thăm khám từ xa đối với người mắc bệnh kinh niên và những người ở các khu vực khó khăn trong tiếp cận cơ sở y tế.

Kiến nghị tổ chức thực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại các cơ sở y tế và cơ sở chăm sóc chuyên biệt cho người cao tuổi

Tổ chức hệ thống y tế đáp ứng nhu cầu của NCT, tập trung vào các bệnh không lây nhiễm; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ y tế với trang thiết bị khám, chữa bệnh hiện đại hơn, đội ngũ nhân viên y tế có chuyên môn tốt nhằm thu hút NCT đi khám bệnh định kì, chữa bệnh ngay từ khi mới phát sinh, giảm tỉ lệ bệnh mạn tính, bệnh nặng, qua đó, giảm chi phí khám, chữa bệnh cho NCT.

Củng cố, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm nâng cao vai trò y tế cơ sở, khẳng định sự cần thiết của việc đánh giá sức khỏe định kì để phát hiện sớm các tình trạng bệnh, đặc biệt các bệnh không lây nhiễm cho NCT tại gia đình và cộng đồng; thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe NCT và phục hồi chức năng cho NCT tại cộng đồng.

Phát triển các đơn vị Lão khoa với cơ sở vật chất và trang thiết bị đáp ứng tiêu chí của phòng khám Lão khoa, khoa Lão khoa, khu có giường điều trị người bệnh là NCT tại các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa; đội ngũ nhân viên y tế đảm bảo số lượng và chất lượng để đạt được kết quả tốt nhất. Đào tạo và đào tạo lại nhân viên y tế và hỗ trợ y tế để hiểu về nhu cầu sức khỏe của NCT.

Cần phát triển hệ thống chăm sóc dài ngày cho NCT thông qua phát triển hệ thống nhà dưỡng lão, đặc biệt là nhà dưỡng lão có chăm sóc y tế; từng bước phát triển các trung tâm ban ngày - bán trú (cung cấp các dịch vụ xã hội cho NCT).

Cung cấp chăm sóc tổng thể và duy trì, tích hợp trên các cơ sở chăm sóc đặc biệt, đôi khi được gọi là chăm sóc liên tục, do tình trạng đa bệnh lí mạn tính của NCT khá phổ biến, thường được chẩn đoán và chữa trị bởi nhiều bác sĩ từ nhiều chuyên khoa và nhiều cơ sở chăm sóc sức khỏe khác nhau. Để làm được điều này, các bác sĩ cần phối hợp chăm sóc giữa các cơ sở chăm sóc sức khỏe khác nhau của bệnh nhân và giao tiếp hiệu quả với các bác sĩ khác, cũng như với bệnh nhân và gia đình của họ. Bên cạnh đó, việc tương tác với bệnh nhân và gia đình để trở thành đối tác chăm sóc dẫn đến việc chăm sóc lấy con người làm trung tâm có ý nghĩa hơn cho các kế hoạch phòng ngừa và điều trị đem lại hiệu quả tốt nhất.

Đẩy mạnh cách tiếp cận chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, với các nguyên tắc chính bao gồm tôn trọng sở thích của bệnh nhân; phối hợp chăm sóc; cung cấp thông tin và giáo dục cho bệnh nhân và người nhà; liên quan đến gia đình và bạn bè; cung cấp cả sự thoải mái về thể chất và hỗ trợ về mặt tinh thần. Những bệnh nhân không có khả năng ra quyết định về những vấn đề phức tạp vẫn có thể đưa ra quyết định về những vấn đề ít phức tạp hơn. Người chăm sóc, bao gồm cả thành viên trong gia đình, có thể giúp xác định những mong muốn thực tế và không thực tế dựa trên thói quen và lối sống của bệnh nhân. Những người chăm sóc cũng nên chỉ ra loại hỗ trợ nào mà họ có thể cung cấp.

Kiến nghị công tác truyền thông nâng cao nhận thức

Thúc đẩy phòng ngừa ban đầu để hình thành lối sống lành mạnh ở tuổi trưởng thành sớm; chiến lược thông tin, giáo dục và truyền thông hướng tới ba nhóm lớn là người già, người trung niên sẽ chuyển sang nhóm tuổi già trong tương lai gần và những người trẻ tuổi là những người có tiềm năng chăm sóc cho cha mẹ/người thân của họ về các vấn đề vệ sinh, dinh dưỡng, tập thể dục, tránh thuốc lá và rượu, các biện pháp phòng ngừa tai nạn và nhận thức về việc nhận biết các dấu hiệu/triệu chứng sớm của các vấn đề lão khoa thông thường, cũng như các bệnh mạn tính và các bệnh thường gặp ở NCT.

Kiến nghị đối với người cao tuổi

Tự rèn luyện, tăng cường sức khỏe và phòng bệnh là liều thuốc tăng tuổi thọ, tăng chất lượng cuộc sống quý giá cho tuổi già;

Tích cực tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động cộng đồng để nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần;

Kiểm tra sức khỏe định kì hoặc khi có biểu hiện bất thường cần phải đi khám ngay do người già ranh giới giữa sinh lí (quá trình già hóa tự nhiên) với bệnh lí thường không rõ nên khả năng biến chứng cao;

Phải có hoạch định chi tiêu và kế hoạch rõ ràng đối với tài chính dành cho việc chăm sóc sức khỏe khi về già. Tuổi già là một hành trình dài, bên cạnh việc rèn luyện, phòng bệnh cần có sự độc lập tài chính cho những dịch vụ chăm sóc lâu dài.

Kiến nghị đối với cộng đồng và gia đình

Xây dựng các câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe cho NCT; lồng ghép nội dung chăm sóc sức khỏe NCT vào các hoạt động xã hội, các chương trình truyền hình có NCT tham gia;

Duy trì các biện pháp xã hội như phát triển văn hóa, trong đó con cái tự nguyện nhận trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già; xây dựng cơ chế quản lí để khiến các thành viên trong xã hội bắt buộc phải chăm sóc cha mẹ già của họ;

Kết nối, hợp tác giữa chăm sóc dựa vào gia đình, cộng đồng, chăm sóc tập trung với cơ sở y tế. Các bác sĩ chuyên khoa lão khoa kết hợp với cộng đồng, gia đình trong việc tạo ra và thực hiện các phương pháp thực hành tốt nhất kết hợp các chiến lược phòng ngừa với mục tiêu giữ cho bệnh nhân và các cộng đồng khỏe mạnh hơn.

Tài liệu tham khảo

  1. Thảo Anh, Linh Trang. 2018. “Nhiều gia đình đợi "dài cổ" để đăng kí vào viện dưỡng lão”, (https://laodong.vn/xa-hoi/nhieu-gia-dinh-doi-dai-co-de-dang-ki-vao-vien-duong-lao- 627884.ldo).
  2. Phan Dương. 2023. “Nặng gánh chi phí viện dưỡng lão”, (https://vnexpress.net/nang- ganh-chi-phi-vien-duong-lao-4602848.html).
  3. Giang, TL et al., 2021. “Báo cáo Khả năng đáp ứng của chính sách Bảo hiểm y tế với vấn đề già hóa tại Việt Nam”. Dự án Hỗ trợ tăng cường thể chế và chính sách Bảo hiểm Y tế tại Việt Nam (TA9211-VIE), ADB.
  4. Hội Lão khoa Việt Nam và Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Hội nghị Lão khoa Quốc gia lần thứ IV. Hà Nội ngày 10/11/2023.
  5. Phúc Minh. 2023. “Đề nghị địa phương hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người cao tuổi”,

(https://vneconomy.vn/de-nghi-dia-phuong-ho-tro-bao-hiem-y-te-cho-nguoi-cao-tuoi.htm).

  1. Thế Phong, Thanh Lương. 2023. “Cần chính sách thiết thực với người cao tuổi”,

(https://nhandan.vn/can-chinh-sach-thiet-thuc-voi-nguoi-cao-tuoi-post775671.html).

  1. Prudential. 2020. Khảo sát “Cuộc sống độc lập khi về già”, (https://www.prudential.com.vn/vi/thong- cao-bao-chi/khao-sat-cuoc-song-doc-lap-khive-gia/).
  1. PV. 2019. “BHYT góp phần quan trọng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi”, (https://baohiemxahoi.gov.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx? UrlListProcess=%2fcontent%2ftintuc%2fLists%2fNews&ItemID=12517&IsTA=False).
  2. PV. 2023. “Sửa Luật BHXH: Bổ sung trợ cấp hưu trí xã hội để hình thành hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng”, (https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem- xa-hoi.aspx?ItemID=21640&CateID=168).

 

 

  1. Phương Thảo. 2020. “Khuyến khích tư nhân đầu tư y tế dành cho người cao tuổi”, (https://tapchitaichinh.vn/khuyen-khich-tu-nhan-dau-tu-y-te-danh-cho-nguoi-cao-tuoi.htm).
  2. Tổng cục Thống kê. 2010. “Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở            2009”, (https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2019/03/ket-qua-toan-bo-tong- dieu-tra-dan-so-va-nha-o-viet-nam-nam-2009/).
  3. Tổng cục Thống kê. 2011. Kết quả Điều tra biến động dân số - kế hoạch hóa gia đình năm 2011.
  4. Tổng cục Thống kê. 2015. Tổng điều tra dân số và dự báo dân số 2014 - 2049.
  5. Tổng cục Thống kê. 2020. Dự báo dân số Việt Nam 2019 - 2069.
  6. Tổng cục Thống kê. 2021. “Người cao tuổi đang có việc làm là những người có làm công việc gì đó từ 1 giờ trở lên trong vòng 1 tuần vừa qua để tạo thu nhập cho bản thân hoặc gia đình”.
  7. Tổng cục Thống kê. 2021a. Điều tra mức sống dân cư 2020.
  8. Tổng cục Thống kê. 2021b. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 - Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam.
  9. Tổng cục Thống kê. 2021c. “Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019”, (https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2019/03/ket-qua-toan-bo-tong- dieu-tra-dan-so-va-nha-o-viet-nam-nam-20199).
  1. Tổng cục Thống kê. 2022. Kết quả Điều tra Biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình năm 2021.
  2. Diệp Trương. 2023. “Phó Thủ tướng: Tính toán nguồn lực tham gia chăm sóc người cao tuổi”, (https://www.vietnamplus.vn/pho-thu-tuong-tinh-toan-nguon-luc-tham-gia- cham-soc-nguoi-cao-tuoi-post872356.vnp).
  3. Uỷ ban quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam. 2019. “Cuộc sống cho người cao tuổi”, (http://vnca.molisa.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=76&id=648), ngày 21/01.
  4. UNFPA. 2012. Ageing in the Twenty-First Century: A Celebration and A Challenge.
  5. UNFPA. 2019. Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 2019.
  6. UNFPA, VNCA. 2019. Hướng tới chính sách quốc gia toàn diện thích ứng với già hóa dân số ở Việt Nam.
  7. UNFPA. 2021. Người cao tuổi Việt Nam: Phân tích từ Điều tra Biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình năm 2021.
  8. VCCI và UNFPA. 2021. “Báo cáo nghiên cứu thị trường các sản phẩm dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam”. Thành phố Hồ Chí Minh.
  9. WB. 2016. Sống lâu và thịnh vượng hơn.
  10. WHO. 2013a. “Definition of an older or elderly person”, (http://www.who.int

/healthinfo/ survey/ ageingdefnolder/en/).

  1. WHO. 2013b. “Towards policy for health and ageing”, (http://www. who.int ageing/ publications/alc_fs_ageing_policy.pdf).
  2. WHO. 2016. Chiến lược và kế hoạch hành động toàn cầu đối với vấn đề lão hóa và sức khỏe.

 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com