Nhận diện ý đồ xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết” phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Để đấu tranh phản bác hiệu quả ý đồ xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết” của các thế lực thù địch, cần nghiên cứu sâu sắc các trước tác và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đó cũng là cơ sở bảo đảm cho tính đúng đắn, thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay.
1- Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động,
bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, đang ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng Việt
Nam. Chúng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chúng
lớn tiếng phủ nhận, xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự
quyết” để phục vụ cho mưu đồ đen tối, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an
toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam. Chúng ngụy
biện, V.I. Lê-nin đã khẳng định “quyền dân tộc tự quyết”, hà cớ gì mà Việt Nam
không thực hiện? Từ đó, chúng lớn tiếng lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi
phạm quyền của các dân tộc thiểu số; kích động một số cá nhân, nhóm người gây
mất an ninh, trật tự, đòi thành lập cái gọi là nhà nước riêng, tách ra khỏi
“thực thể quốc gia dân tộc” (từ dùng của V.I. Lê-nin) Việt Nam độc lập, thống
nhất và phát triển.
Các luận điệu nêu trên của các thế lực thù địch, phản động hết
sức nguy hiểm, thâm độc, cần kiên quyết bác bỏ:
Thứ nhất, nhận thức đúng đắn tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền
dân tộc tự quyết”.
Nội dung “quyền dân tộc tự quyết”, theo tư tưởng của V.I.
Lê-nin, là quyền làm chủ của mỗi quốc gia - dân tộc đối với vận mệnh của mình,
quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của quốc gia - dân
tộc. Theo V.I. Lê-nin, quyền dân tộc tự quyết gắn với việc các dân tộc có quyền
độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp
bức họ. Người viết: “các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do
phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ”(1). Theo
V.I. Lê-nin, yêu sách đó hoàn toàn không đồng nghĩa với yêu sách đòi phân lập,
phân tán, thành lập những quốc gia nhỏ. V.I. Lê-nin chỉ ra tính ưu việt của chủ
nghĩa xã hội khi đề cập vấn đề quyền dân tộc tự quyết, tạo điều kiện để các dân
tộc liên hợp với nhau cùng phát triển, trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, cùng có
lợi. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội có mục đích không những xóa bỏ tình trạng
nhân loại bị chia thành những quốc gia nhỏ và xóa bỏ mọi trạng thái biệt lập
giữa các dân tộc, không những làm cho các dân tộc gần gũi nhau, mà cũng còn
nhằm thực hiện việc hợp nhất các dân tộc lại”(2). Quyền
độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp
bức họ, có ý nghĩa quan trọng để các dân tộc bị áp bức thoát khỏi mọi ách áp
bức dân tộc - điều này chỉ trở thành hiện thực khi mục tiêu giải phóng giai
cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người của cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa thành công. Khẳng định điều này, V.I. Lê-nin viết: “Nhân loại chỉ có trải
qua thời kỳ quá độ của chuyên chính của giai cấp bị áp bức, mới có thể xóa bỏ
được các giai cấp, cũng giống như vậy, nhân loại chỉ có trải qua thời kỳ quá độ
hoàn toàn giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức, nghĩa là thời kỳ các dân tộc
được tự do phân lập, thì mới có thể đạt tới sự hợp nhất tất nhiên giữa các dân
tộc”(3).

V.I. Lê-nin - Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô
sản toàn thế giới
(Tranh: Tư liệu)
Tuy nhiên, V.I. Lê-nin cũng chỉ ra yêu cầu đối với việc thực
hiện quyền dân tộc tự quyết:
Một là, phải đứng vững trên lập
trường mác-xít, bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích của dân tộc với lợi ích của
giai cấp công nhân trong giải quyết mối quan hệ dân tộc. Giai cấp công nhân
không chỉ đấu tranh để giải phóng giai cấp mình, mà phải đấu tranh để giải
phóng dân tộc bị áp bức. V.I. Lê-nin viết: “Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất
thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn, do đó, không những làm cho các dân
tộc hoàn toàn bình quyền với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của các dân
tộc bị áp bức, tức là quyền tự do phân lập về mặt chính trị”(4).
Hai là, bảo đảm quan điểm thực
tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể. Điều này có nghĩa là việc thực hiện quyền dân
tộc tự quyết phải được đặt trong phạm vi quốc gia - dân tộc cụ
thể, được xem xét trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể. V.I. Lê-nin viết:
“... những người mác-xít không thể bỏ qua được những nhân tố kinh tế mạnh
mẽ đang sản sinh ra những xu hướng thành lập các quốc gia dân tộc. Điều đó có
nghĩa là trong cương lĩnh của những người mác-xít, “quyền dân tộc tự quyết”
đứng trên quan điểm lịch sử - kinh tế mà xét, không thể có
nghĩa nào khác hơn là quyền tự quyết về chính trị, là quyền độc lập quốc gia,
là sự thành lập quốc gia dân tộc”(5).
Ba là, không được lẫn lộn vấn đề quyền dân tộc
tự quyết với việc xem xét vấn đề tách ra của một dân tộc. Điều này cần
được nhìn nhận, xem xét đối với từng trường hợp riêng biệt, căn cứ vào lợi ích
của toàn bộ sự phát triển xã hội và lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp
của giai cấp vô sản vì chủ nghĩa xã hội. Theo V.I. Lê-nin, quyền dân tộc
tự quyết là quyền của dân tộc bị áp bức bởi một dân tộc
khác, chứ hoàn toàn không phải quyền của các dân tộc thiểu số trong một
quốc gia, nhưng viện cớ tự quyết để tách ra thành lập nhà nước riêng, thành
lập quốc gia riêng. Sự vi phạm nguyên tắc này sẽ làm tổn hại lớn đến lợi ích
chung của đại đa số nhân dân trong một quốc gia - dân tộc thống nhất; đồng
thời, làm tổn hại đến lợi ích của toàn xã hội và lợi ích của giai cấp công nhân
trong sự nghiệp đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Không
được lẫn lộn vấn đề quyền dân tộc tự quyết (nghĩa là hiến pháp nhà
nước đảm bảo một phương thức giải quyết hoàn toàn tự do và dân chủ vấn
đề phân lập) với vấn đề xem xét một dân tộc nào đó có nên tách ra
không. Trong mỗi trường hợp riêng biệt vấn đề thứ hai này phải được
đảng dân chủ - xã hội giải quyết một cách hoàn toàn độc lập, căn cứ
vào lợi ích của toàn bộ sự phát triển xã hội và lợi ích của cuộc đấu
tranh giai cấp của giai cấp vô sản vì chủ nghĩa xã hội”(6).
Bốn là, bảo đảm quyền dân tộc tự quyết phải trở
thành nhiệm vụ của giai cấp công nhân đối với dân tộc bị áp bức trên toàn thế
giới, nhất là đối với quốc gia - dân tộc thuộc địa bị áp bức. Ở đây, V.I.
Lê-nin chỉ ra hai trường hợp: 1- Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi
nắm quyền thống trị, vì đặc quyền giai cấp, không chỉ áp bức các dân tộc khác,
mà còn áp bức dân tộc ở chính nước mình. Chỉ rõ điều này, V.I. Lê-nin viết:
“... các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến ở Tây Âu và nước Mỹ. Ở đó, các phong
trào dân tộc tiến bộ tư sản đã kết thúc từ lâu rồi. Mỗi dân tộc “lớn” đó đều áp
bức các dân tộc khác ở các thuộc địa và ở trong nước họ”(7). Như
vậy, trong các nước tư bản chủ nghĩa, tình trạng áp bức dân tộc cũng chính là
hệ quả của tình trạng áp bức giai cấp; 2- Trong thời đại chủ nghĩa đế quốc,
“... các cuộc chiến tranh xảy ra thường xuyên hơn, thế lực phản động mạnh lên,
ách áp bức dân tộc và sự cướp bóc thuộc địa mạnh thêm và mở rộng thêm”(8). Bối
cảnh đó tạo sự phát triển mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi
quyền dân tộc tự quyết ở các nước thuộc địa.
Như vậy, trong cả hai trường hợp, quyền dân tộc tự quyết là nhu
cầu chính đáng, cấp bách của dân tộc bị áp bức. Nhiệm vụ của giai cấp công nhân
các dân tộc phải liên hợp lại, đoàn kết, giúp đỡ dân tộc bị áp bức trong việc
thực hiện quyền dân tộc tự quyết. V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Xét theo quan điểm lý
luận của chủ nghĩa Mác nói chung, thì vấn đề quyền tự quyết không có gì khó
khăn cả... Trong chừng mực nào đó, khó khăn là ở chỗ, ở nước Nga giai cấp vô
sản của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản của dân tộc đi áp bức đang đấu
tranh và phải đấu tranh sát cánh bên nhau. Bảo vệ sự thống nhất của cuộc đấu
tranh giai cấp của giai cấp vô sản để tiến tới chủ nghĩa xã hội, chống lại mọi
ảnh hưởng tư sản... của chủ nghĩa dân tộc, - đó là nhiệm vụ phải giải quyết”(9).
Thứ hai, V.I. Lê-nin - tấm gương mẫu mực trong đấu tranh phê
phán, phản bác các nhận thức mơ hồ, các luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc
vấn đề quyền dân tộc tự quyết.
Sinh thời, V.I. Lê-nin là tấm gương mẫu mực trong việc phê phán
đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, hoặc cố tình xuyên tạc lý
luận mác-xít về quyền dân tộc tự quyết, hòng kích động tâm lý ly khai dân tộc
từ các tộc người thiểu số. Điều này được thể hiện tập trung trong tác phẩm “Về
quyền dân tộc tự quyết” (năm 1914). Trong tác phẩm này, V.I. Lê-nin đã kiên
quyết phê phán Rô-da Lúc-xăm-bua, mặc dù là một người mác-xít, nhưng do không
nắm bắt đầy đủ các nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết, nhất là quan điểm lịch
sử - cụ thể, quan điểm thực tiễn nên đã “luôn sa vào những lập luận chung
chung”, đưa ra lý lẽ trừu tượng, sáo rỗng, sai lầm về quyền dân tộc tự quyết.
Điều này không những đã tác động tiêu cực đến nhận thức của một số người
mác-xít, mà còn gây ra “cả một chiến dịch công kích của bọn cơ hội chủ nghĩa”
đủ loại. Chúng đã lợi dụng quan điểm của bà để xuyên tạc, bóp méo lý luận
mác-xít về quyền dân tộc tự quyết, nhằm phục vụ cho những mưu đồ chính trị đen
tối.
Trong cuộc đấu tranh bảo vệ lý luận của chủ nghĩa Mác về vấn đề
dân tộc và quyền dân tộc tự quyết, V.I. Lê-nin nhấn mạnh, không
được đánh tráo khái niệm, cố tình “bịa ra” định nghĩa trừu tượng, hay
có “thái độ giả dối và hèn nhát”, hoặc lợi dụng, xuyên tạc vấn đề này vì mưu đồ
chính trị. Ông viết: “... muốn hiểu thế nào là quyền dân tộc tự quyết, không
phải bằng cách đem những định nghĩa pháp lý ra để chơi chữ, không phải bằng
cách “bịa ra” những định nghĩa trừu tượng, mà bằng cách phân tích các điều kiện
lịch sử - kinh tế của các phong trào dân tộc”(10).
Tóm lại, bằng lập luận khoa học, sắc bén, V.I. Lê-nin
đã luận giải rõ ràng nội dung và nguyên tắc phải quán triệt khi thực hiện quyền
dân tộc tự quyết theo lập trường của giai cấp công nhân. Từ tư tưởng của V.I.
Lê-nin, rút ra hai kết luận quan trọng: Một là, quyền dân tộc
tự quyết chỉ được đặt ra đối với các quốc gia - dân tộc bị
áp bức bởi một quốc gia - dân tộc khác. Hai là, không
thể đồng nhất quyền dân tộc tự quyết với quyền của các dân tộc
thiểu số, không thể viện cớ tự quyết để đòi tách ra khỏi quốc gia - dân tộc
độc lập thống nhất.
Vậy mà các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình lấp liếm,
xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin, với mưu đồ làm cho nhân dân các dân tộc
nhận thức mơ hồ, thậm chí sai lệch về quyền dân tộc tự quyết; từ đó, bị kích
động, lôi kéo tham gia hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi ly
khai làm tổn hại đến sự ổn định, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia
- dân tộc độc lập, có chủ quyền.
2- Hiện nay, các thế lực thù địch không chỉ xuyên tạc tư
tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết”, mà còn lợi dụng triệt để “Tuyên
ngôn về quyền của dân tộc bản địa” do Liên hợp quốc nêu ra vào
năm 2007 và Hiến chương Liên hợp quốc nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị của
chúng. Chúng thổi phồng vấn đề được đề cập trong Tuyên ngôn, đưa ra yêu sách
đòi chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, dân tộc
Chăm ở Nam Trung bộ, dân tộc Khmer ở khu vực Tây Nam Bộ,... là “dân tộc bản
địa”, đòi “quyền dân tộc tự quyết” cho các tộc người, đòi thành lập cái gọi là
nhà nước Đềga tự trị ở Tây Nguyên, vương quốc Chăm ở Nam Trung bộ, nhà nước
Khmer Krôm ở Tây Nam bộ. Vụ khủng bố xảy ra ở huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk (ngày
11-6-2023) là kết quả của sự kích động của các thế lực phản động bên ngoài và
một số kẻ tiếp tục lợi dụng vấn đề mà chúng gọi là “dân tộc bản địa”, “sắc tộc
bản địa” để rêu rao rằng, truyền thống, luật lệ của “người bản địa”, “sắc tộc
bản địa” ở Tây Nguyên đang bị triệt tiêu, từ đó kích động thù hằn giữa các dân
tộc. Đối với khu vực Tây Bắc, các thế lực phản động tung tin người Mông từng có
“tổ quốc riêng, vua riêng” để kích động thành lập cái gọi là “vương quốc Mông”.
Đối với dân tộc Thái, chủ đề kích động của chúng gắn với cái gọi là vấn đề “xứ
Thái tự trị” và mối liên kết giữa người Thái Việt Nam với người Thái ở các nước
trong khu vực để “bảo vệ quyền lợi cho dân tộc Thái”... Mục đích của chúng nhằm
kích động đồng bào các dân tộc đòi quyền tự quyết, quyền tự trị cho các dân tộc
thiểu số, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thực tế cho thấy, vấn đề “dân tộc bản địa” không chỉ bị các thế
lực thù địch thường xuyên lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, mà nhiều
người, trong đó có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên, do chưa nhận thức được sự
nguy hiểm trong luận điệu của các thế lực thù địch, đã sai phạm khi triển khai
trong hoạt động thực tiễn. Do vậy, vấn đề này cần được nhận diện rõ và kiên
quyết đấu tranh bác bỏ sự xuyên tạc nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam.
Thứ nhất, bác bỏ luận điệu thâm độc của các thế lực phản động,
thù địch cài cắm thuật ngữ “dân tộc bản địa” ở Việt Nam.
Ở nước ta, “dân tộc bản địa”, hay “người bản xứ” chỉ là cách gọi
do thực dân Pháp sử dụng khi xâm lược, với hàm nghĩa chỉ tất cả cộng đồng dân
tộc Việt Nam (bao gồm cả người Kinh và các dân tộc thiểu số), hoàn toàn không
gắn với việc định hình tộc người cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động cũng
hoàn toàn không nhắc đến quy định trong “Tuyên ngôn về quyền của dân tộc
bản địa”, theo đó phần đầu của Tuyên ngôn nêu rõ, công nhận tình hình của
các dân tộc bản địa là khác nhau tùy theo khu vực và quốc gia, cũng như công
nhận rằng cần cân nhắc đặc điểm khác biệt giữa các quốc gia, khu vực và những
nền tảng khác nhau về lịch sử và văn hóa. Đây chính là sự phản ánh nguyên tắc
lịch sử - cụ thể mà V.I. Lê-nin từng đề cập. Do vậy, đòi hỏi thực hiện quyền
của các dân tộc bản địa hoàn toàn thoát ly khỏi thực tiễn Việt Nam, quy định
của văn kiện quốc tế phổ quát, hoàn toàn xa rời các nguyên tắc mà V.I. Lê-nin
đã yêu cầu khi thực hiện quyền dân tộc tự quyết, nhất là nguyên tắc thực tiễn,
nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc về sự thống nhất giữa lợi ích giai cấp
và lợi ích dân tộc để cùng phát triển. Đây thực chất là luận điệu phản động,
cực đoan quá khích của một số phần tử và một số tổ chức phản động cố tình đánh
tráo khái niệm “dân tộc - quốc gia” với “dân tộc - tộc người”, để xuyên tạc,
đánh đồng giữa quyền tự quyết của một dân tộc (tộc người) với quyền tự quyết
của một quốc gia - dân tộc.
Thứ hai, nhận thức đúng về quyền dân tộc tự quyết và quyền của
các dân tộc thiểu số.
Quyền của các dân tộc thiểu số là một trong những quyền cơ bản
của con người, được khẳng định trong các văn kiện pháp lý quốc tế và xếp trong
nhóm các quyền dân sự - chính trị. Tại Điều 1, khoản 2 Hiến chương Liên hợp
quốc năm 1945 khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia
trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc...”. Quan
hệ giữa các quốc gia được xác định trong Hiến chương Liên hợp quốc chính là
quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền; trong đó, dân tộc đa số và dân
tộc thiểu số bình đẳng, cùng hợp thành một quốc gia - dân tộc có chủ quyền.
Việc các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, đánh tráo khái niệm
giữa “quyền tự quyết của một quốc gia - dân tộc” với “quyền tự quyết của dân
tộc thiểu số” là sự xa rời các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế.
3- Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất
bao gồm 54 dân tộc. Đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành truyền thống quý báu
của dân tộc Việt Nam và được phát huy mạnh mẽ trong mọi thời đại, tạo thành sức
mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhân dân các dân tộc bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền
bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với cộng
đồng quốc tế.
Trong lịch sử cũng như hiện tại, vận dụng sáng tạo lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân
dân các dân tộc Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, nổi dậy đấu tranh đòi quyền dân
tộc tự quyết để thoát khỏi ách áp bức tàn bạo của thực dân, đế quốc xâm lược.
Ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam phát huy tinh thần đoàn kết một lòng xây dựng
đất nước và bảo vệ Tổ quốc phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện quyền bình đẳng và
quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam với các quốc gia khác trong cộng đồng quốc
tế. Thực chất đó là thực hiện các quyền của dân tộc phù hợp với luật pháp quốc
tế. Những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong tiến trình đổi mới là
bằng chứng cho thấy, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta đã được phát huy
hiệu quả và tạo ra động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, góp
phần quan trọng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Khối đại diện 54 dân tộc Việt Nam diễu binh,
diễu hành
kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9
(Nguồn: nhandan.vn)
Thứ hai, đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để
thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam độc
lập, thống nhất.
Ở Việt Nam, các dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò vô cùng quan
trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Hiện nay, phần lớn dân tộc thiểu
số cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng giáp
biên - những địa bàn khó khăn trong phát triển, nhưng lại có vị trí chiến lược
của đất nước. Với đường lối, chiến lược của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước, đồng bào dân tộc thiểu số cùng với dân tộc đa số thực sự là chủ thể
trực tiếp tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, giá trị
văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc tiếp tục được bảo lưu, giữ gìn và phát huy, góp
phần hình thành nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.
Khẳng định quyền của các dân tộc trong cộng đồng quốc gia
dân tộc thống nhất, Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) quy định: 1. Nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống
trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp
nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và
văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện
và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với
đất nước.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh thành
tựu đã đạt được là không thể phủ nhận, vẫn còn một số hạn chế do nhiều yếu tố
tác động (cả khách quan và chủ quan); vì vậy, trong không ít trường hợp, quyền
của các dân tộc vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc, tác động đến sự vững mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là khó khăn về điều kiện tự nhiên, về
trình độ phát triển không đồng đều giữa các nhóm dân tộc; việc cư trú xen kẽ
giữa các tộc người vừa có mặt tích cực, vừa có tác động tiêu cực, nếu không chú
ý giải quyết tốt tác động tiêu cực thì dễ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột trong
quan hệ tộc người. Đó còn là sai phạm trong triển khai thực hiện không hiệu quả
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở một số địa phương vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, khiến cho đời sống đồng bào gặp nhiều khó khăn, chênh lệch giàu
nghèo, phân hóa xã hội lớn; một bộ phận cán bộ quan liêu, xa dân, không kịp thời
nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân... làm ảnh hưởng lớn đến
quan hệ giữa một bộ phận dân tộc thiểu số với chính quyền ở cơ sở và Nhà nước.
Từ một số sai phạm, hạn chế nêu trên đã bị các thế lực phản động trong và ngoài
nước cố tình xuyên tạc, thổi phồng, đánh tráo khái niệm giữa “quyền tự quyết
của một quốc gia - dân tộc” với “quyền tự quyết của dân tộc thiểu số”, hòng
kích động các tộc người thiểu số đòi ly khai với danh nghĩa thực hiện quyền dân
tộc tự quyết, làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính
trị, trật tự, an toàn xã hội.
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm thất bại mọi thủ
đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, quyền dân tộc tự quyết để chống phá cách mạng
Việt Nam, một số giải pháp cơ bản sau đây cần được
triển khai hiệu quả:
Một là, tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều biện pháp và hình
thức đa dạng, phong phú, phù hợp để nâng cao nhận thức về lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, luật pháp quốc tế về dân tộc, về quyền dân tộc tự
quyết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng bào các dân tộc thiểu số. Khi nhận
thức đúng thì việc triển khai thực hiện mới hiệu quả và chính đồng bào dân tộc
thiểu số sẽ là lực lượng tích cực, chủ động đấu tranh chống mọi sự xuyên tạc,
kích động ly khai, gây thù hằn dân tộc của các thế lực thù địch.
Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền và
lợi ích kinh tế, chính trị, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây là giải
pháp có ý nghĩa quyết định trong giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc,
dân tộc thiểu số với quốc gia và bảo đảm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Thực tế cho thấy, nếu chỉ tuyên truyền lý thuyết chung chung thì sẽ không
hiệu quả; do đó, việc bảo đảm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
phát triển là vấn đề quan trọng hàng đầu, quyết định tính chất, nội dung quan
hệ giữa các dân tộc với nhau và các dân tộc thiểu số với quốc gia, là điều kiện
để các dân tộc bình đẳng, đoàn kết và ổn định đất nước.
Ba là, rà soát, đánh giá hiệu quả hệ thống pháp luật,
chính sách về dân tộc, về đại đoàn kết toàn dân tộc để phát hiện bất cập, lỗ
hổng. Trên cơ sở đó, kịp thời bổ sung, hoàn thiện hoặc ban hành chính sách mới
phù hợp theo hướng bảo đảm sinh kế cho đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm
đồng bào được bình đẳng trong tiếp cận cơ hội việc làm, thu nhập, nguồn lực,
thị trường, phúc lợi xã hội, thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới; quyền
lợi phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; phát huy tiềm năng, thế mạnh và
nội lực của đồng bào các dân tộc thiểu số trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; bảo
đảm quyền bình đẳng và nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử, kỳ thị đối với các
dân tộc thiểu số cả về hình thức và thực tế. Có hình thức xử lý nghiêm khắc đối
với hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, quyền dân tộc tự quyết để gây thù hằn,
chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bốn là, thẳng thắn đấu tranh với các quan điểm
sai trái, các luận điệu xuyên tạc, hoạt động của thế lực thù địch lợi dụng vấn
đề quyền dân tộc tự quyết, vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để
kích động, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với
dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau.
Năm là, sử dụng linh hoạt, đồng bộ biện pháp,
thường xuyên coi trọng công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi; củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên địa
bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong
đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề quyền dân tộc tự quyết,
quyền của các dân tộc thiểu số hòng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc ở Việt Nam./.
PGS. TS Bùi Thị Ngọc Lan
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh
----------------
(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2005, t. 27, tr. 327
(2), (3), (4) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd,
t. 27, tr. 328, 328, 323
(5) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25,
tr. 308
(6) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 24,
tr. 78
(7), (8) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t.
27, tr. 333, 323
(9) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25,
tr. 371
(10) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25,
tr. 303