Nghị quyết đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về thay đổi hành vi tiêu dùng năng lượng của xã hội, đặc biệt là thúc đẩy lối sống tiết kiệm năng lượng trong cộng đồng dân cư “Khuyến khích đầu tư và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm phát thải, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tăng năng suất lao động và đổi mới mô hình tăng trưởng, coi đây vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của toàn xã hội”.
Ảnh minh hoạ: AI tạo lập
Nghị quyết xác định rõ an ninh năng lượng là một cấu phần không thể tách rời của an ninh quốc gia. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác bảo đảm an ninh năng lượng “năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân”, Bộ chính trị đưa ra yêu cầu công tác đảm bảo an ninh năng lượng phải “đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời gian tới, nhất là thực hiện 2 mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và năm 2045”. Điểm mới trong tư duy là chuyển từ cách tiếp cận bị động - chỉ tập trung đáp ứng nhu cầu năng lượng - sang chủ động xây dựng một hệ thống năng lượng có khả năng chống chịu cao, thích ứng với các biến động bên ngoài, cụ thể là: “Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hoá các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng hoá thạch trong nước, chú trọng bình ổn, điều tiết và bảo đảm dự trữ năng lượng quốc gia; phát triển điện hạt nhân, điện khí”. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu đang chịu nhiều tác động từ xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu và quá trình chuyển dịch sang năng lượng sạch.
Về mục tiêu, Nghị quyết đề ra định hướng xây dựng hệ thống năng lượng an toàn, ổn định, có dự phòng hợp lý, đa dạng hóa nguồn cung, phát triển đồng bộ các loại hình năng lượng theo hướng xanh, sạch, hiện đại”. Đồng thời, văn kiện cũng nhấn mạnh yêu cầu “sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là quốc sách quan trọng và trách nhiệm của toàn xã hội”. Đây là một trong những điểm nhấn then chốt, cho thấy việc kiểm soát nhu cầu tiêu dùng năng lượng được đặt ngang hàng với phát triển nguồn cung, tạo nên cách tiếp cận cân bằng giữa “cung” và “cầu” trong quản trị năng lượng.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Nghị quyết đưa ra 07 nhóm giải pháp, trong đó đáng chú ý là việc hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ. Tuy nhiên, điểm đặc biệt là Nghị quyết không giới hạn phạm vi giải pháp trong khu vực nhà nước hay doanh nghiệp mà mở rộng ra toàn xã hội. Văn kiện khẳng định: “người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể phát triển năng lượng quốc gia”, do đó cần “Phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp trong sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; hình thành lối sống, thói quen tiêu dùng năng lượng văn minh, bền vững”. Điều này cho thấy, người dân không còn là đối tượng thụ hưởng chính sách đơn thuần mà trở thành chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Trong bối cảnh đó, lối sống tiết kiệm năng lượng nổi lên như một yếu tố có ý nghĩa chiến lược. Trên phương diện kinh tế, việc tiết kiệm năng lượng góp phần giảm tổng cầu, qua đó giảm áp lực đầu tư mở rộng nguồn cung và hạn chế phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng. Giải pháp thứ tư đưa ra đã chỉ ra rằng cần đẩy mạnh thực hiện “Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn đến năm 2030 và Chương trình quản lý nhu cầu điện quốc gia. Cơ cấu lại, khuyến khích phát triển các ngành sử dụng hiệu quả năng lượng, đem lại lợi ích cao nhất về kinh tế - xã hội”. Điều này hàm ý rằng, tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới không thể dựa vào gia tăng tiêu thụ năng lượng mà phải dựa vào tối ưu hóa hiệu quả sử dụng. Trên phương diện môi trường, lối sống tiết kiệm năng lượng có mối liên hệ trực tiếp với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và phát triển nền kinh tế carbon thấp. Nghị quyết nhấn mạnh việc đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh, giảm phát thải, góp phần thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu. “Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng phù hợp với tình hình phát triền đất nước và sự hỗ trợ quốc tế. Xây dựng Chương trình chuyển đổi năng lượng quốc gia; có lộ trình giảm dần sử dụng nhiên liệu hoá thạch trong sản xuất năng lượng phù hợp với cam kết quốc tế”. Tuy nhiên, chuyển dịch năng lượng sẽ không đạt hiệu quả nếu chỉ dựa vào thay đổi nguồn cung mà thiếu sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng. Do đó, tiết kiệm năng lượng ở cấp hộ gia đình và cá nhân trở thành một trong những giải pháp thiết thực để hiện thực hóa mục tiêu này.
Tóm lại, Nghị quyết số 70-NQ/TW đã xác lập một cách tiếp cận toàn diện và hiện đại đối với vấn đề an ninh năng lượng quốc gia, trong đó nhấn mạnh vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đặc biệt, việc khẳng định “sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là quốc sách quan trọng” đã đưa lối sống tiết kiệm năng lượng của người dân trở thành một trụ cột không thể thiếu trong chiến lược phát triển năng lượng. Sự gắn kết giữa chính sách vĩ mô và hành vi vi mô, giữa quản trị nhà nước và thực hành xã hội, chính là chìa khóa để Việt Nam hướng tới một hệ thống năng lượng bền vững, an toàn và thích ứng trong tương lai./.