Hội thảo khoa học: “Tận dụng cơ hội và giảm thiểu rủi ro của công nghệ số đối với các nhóm dân cư trong xã hội”
Ngày 12/1/2026, tại Khách sạn Hoà Bình, số 27 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, Hội Truyền thông số Việt Nam và Viện Quyền con người (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) phối hợp với Viện Nghiên cứu chính sách và phát triển truyền thông (IPS) tổ chức Hội thảo với chủ đề:“Tận dụng cơ hội và giảm thiểu rủi ro của công nghệ số đối với các nhóm dân cư trong xã hội”. Hội thảo nhận được sự hỗ trợ của Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc, Ủy ban Quyền con người Úc.
Anh-tin-bai

Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo

      Trong bài phát biểu khai mạc, Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam cho rằng, trên phạm vi toàn cầu, công nghệ số đã lan tỏa sâu rộng tới hầu hết các nhóm dân cư. Tại Việt Nam, mức độ ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), gia tăng nhanh, đạt thứ hạng 6/40 quốc gia trong Bảng xếp hạng Chỉ số AI toàn cầu năm 2025. Công nghệ mới này đặc biệt phổ biến trong nhóm người trẻ ở đô thị, và cũng được cộng đồng doanh nghiệp tích hợp trực tiếp vào chiến lược của nhiều doanh nghiệp với tỷ lệ cao hơn mặt bằng khu vực. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo đang tái định hình thị trường lao động. Ở Việt Nam, sự bao phủ rộng của ngành công nghiệp đẩy nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin tăng cao, có thể đạt 2 triệu người vào năm 2030, tập trung vào AI, dữ liệu lớn, an ninh mạng và internet vạn vật. Ông cũng cho rằng, sự phát triển không ngừng của công nghệ số dẫn đến nhiều thách thức cốt lõi. Thứ nhất, công nghệ số, nổi bật là AI, vừa mở ra các cơ hội mới, vừa đặt ra những thách thức làm gia tăng bất bình đẳng và tác động bất lợi đến các nhóm lao động dễ bị tổn thương; Thứ hai là bảo đảm an toàn và quyền tham gia của người dân trên không gian số. Công nghệ số chỉ phát huy giá trị khi quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân và các quyền cơ bản của công dân được bảo vệ. Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam kỳ vọng Hội thảo sẽ trở thành một diễn đàn đối thoại chuyên sâu và mang tính xây dựng, quy tụ các nhà hoạch định chính sách, giới nghiên cứu, chuyên gia, doanh nghiệp và các bên liên quan, nhằm cùng trao đổi, phân tích và làm rõ những cơ hội, thách thức đặt ra trong tiến trình chuyển đổi số hiện nay. Trên cơ sở đó, hội thảo hướng tới việc đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách thiết thực, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tính bao trùm, công bằng và bền vững cho mọi nhóm dân cư trong xã hội.

Anh-tin-bai

TS. Lương Thu Hiền, Phó viện trưởng Viện Quyền Con người, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giới và Quyền phụ nữ (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) phát biểu đề dẫn Hội thảo

      TS. Lương Thu Hiền nhận định, trên bình diện quốc tế, các diễn đàn đa phương của Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế đều nhấn mạnh, chuyển đổi số cần được định hướng bởi cách tiếp cận dựa trên quyền con người, lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tính bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Những vấn đề như quyền riêng tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền tiếp cận thông tin, quyền văn hóa trong không gian số, cũng như tác động của công nghệ số đối với việc làm và an sinh xã hội đang trở thành các nội dung thảo luận trọng tâm trên toàn cầu. TS. Lương Thu Hiền cho rằng, Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số trên nhiều lĩnh vực, từ quản trị công, cung cấp dịch vụ công, phát triển kinh tế số, đến truyền thông số, đẩy mạnh chính phủ số và xã hội số,… tạo động lực phát triển mới, mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ số cho người dân. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều thách thức mới như khoảng cách số giữa các vùng, các nhóm xã hội, nguy cơ bất bình đẳng số, rủi ro về quyền riêng tư, an toàn thông tin, cũng như tác động của truyền thông số đối với các giá trị văn hóa, xã hội và quyền con người, đặc biệt đối với người nghèo, nhóm lao động phi chính thức, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số. 

      Hội thảo được chia làm hai phiên "Công nghệ số và tác động xã hội" và "Bảo đảm quyền và lợi ích của người dân trên môi trường số".

      Tham luận mở đầu Phiên I: Công nghệ số và tác động xã hộiTổng quan về công nghệ số và tác động đến các nhóm dân cư trong xã hội do Ông Nguyễn Đức Lam, Cố vấn Chính sách, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) trình bày đã đưa ra bức tranh về hệ sinh thái số và thực trạng người dùng internet ở Việt Nam.

Anh-tin-bai

      Diễn giả cho biết nền kinh tế số ở Việt Nam đang phát triển mạnh, với quy mô đứng thứ 3 trong ASEAN. Đồng thời, thứ hạng Chính phủ điện tử đã được cải thiện rõ rệt, tăng từ vị trí 99 (năm 2014) lên vị trí 71 (năm 2024). Báo cáo chỉ ra những lợi ích của công nghệ số, AI như: tạo giá trị gia tăng, tăng năng suất, tạo việc làm, thay đổi mô hình kinh doanh, biến đổi ngành kinh tế, thúc đẩy giá trị quyền con người,.. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn khoảng cách số và bất bình đẳng số. Ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, hạ tầng số chưa đáp ứng được yêu cầu. Với nhóm dân tộc thiểu số, phần mềm ngôn ngữ chưa được cập nhật. Tỷ lệ truy cập mạng của người khuyết tật còn thấp (34%) so với (74%) người không khuyết tật. Ngoài ra, các vấn đề về khoảng cách về năng lực số; Phân biệt đối xử số: thiên vị thuật toán; Rủi ro, nguy cơ trên môi trường số; Bạo lực giới liên quan đến công nghệ; Quyền lao động và việc làm; Công nghệ số và quyền y tế; Quyền giáo dục trong kỷ nguyên số,… cũng còn nhiều bất cập. Trên cơ sở đó, diễn giả đề xuất ba lớp giải pháp bảo vệ quyền con người trên không gian mạng: (i) công cụ công nghệ an toàn, (ii) thể chế và nâng cao nhận thức cộng đồng, (iii) khung quản trị và pháp lý. Thông điệp xuyên suốt được khẳng định là công nghệ phải phục vụ con người, vì nhân phẩm, quyền và tự do của con người, với cách tiếp cận lồng ghép quyền con người ngay từ đầu, ưu tiên bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, và chuyển trọng tâm hành động từ “tiếp cận thiết bị” sang “nâng cao năng lực số” và “bảo đảm an toàn số”, hướng tới sự phát triển hài hòa giữa con người và công nghệ.

      Tham luận thứ 2: Ứng dụng công nghệ số trong cung cấp và tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam: Tính cấp thiết của việc tiếp cận lấy người dùng làm trung tâm do Bà Đỗ Thanh Huyền, Chuyên gia Phân tích Chính sách công, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam trình bày. Tham luận nêu rõ  tính cấp thiết của việc thực hiện chuyển đổi số trong cung ứng dịch vụ công, trong đó có dịch vụ công trực tuyến dựa trên bằng chứng; Tính cấp thiết của việc lấy người dùng làm trung tâm trong thiết kế, xây dựng và ứng dụng chuyển đổi số trong cung ứng dịch vụ công trực tuyến; Đồng thời giới thiệu một số mô hình mà UNDP đã hỗ trợ thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong cung ứng dịch vụ công trực tuyến; từ đó đưa ra một số đề xuất để tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến nhằm bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong công cuộc chuyển đổi số ở khu vực công.

      Tham luận thứ 3: Tác động của công nghệ số đối với thị trường lao động và việc làm do nhóm chuyên gia của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Việt Nam trình bày (Ông Nguyễn Ngọc Triệu, Cán bộ Chương trình Cao cấp, Trưởng ban Chương trình; Ông Nguyễn Hải Đạt, Cán bộ Chương trình An sinh Xã hội). Diễn giả chỉ ra một số khía cạnh của việc làm thỏa đáng trong nền kinh tế nền tảng và cho rằng, sự gia tăng của nền kinh tế nền tảng đòi hỏi phải xác định và giải quyết các khoảng trống trong tiêu chuẩn về việc làm bền vững. Diễn giả phân tích luật pháp và thực tiễn về quản trị kinh tế nền tảng ở Châu Á - Thái Bình Dương. Từ đó chỉ ra những điều cần lưu ý để quản trị nền kinh tế nền tảng; và cho rằng đo lường việc làm trên nền tảng kỹ thuật số ở Việt Nam là chìa khóa để cung cấp dữ liệu và cơ sở bằng chứng cho các nỗ lực chính sách trong tương lai và hướng tới các tiêu chuẩn mới về việc làm bền vững trong kinh tế nền tảng. Với vấn đề tạo việc làm trong nền kinh tế số, diễn giả chỉ ra các cơ hội và thách thức qua phân tích tác động của AI tạo sinh đến việc làm ở ASEAN. Trong số hóa các dịch vụ cho việc làm bền vững, nhóm tác giả chỉ ra năm công nghệ thúc đẩy chuyển đổi số trong đào tạo nghề và các chiến lược quốc gia mang tính tích hợp và hệ thống.

      Phiên thảo luận bàn tròn với chủ đề Công nghệ số và các nhóm dễ bị tổn thương: Từ chính sách đến thực tiễn tại Việt Nam do Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) điều phối. Các chuyên gia thảo luận gồm: Bà Lê Anh Lan, Chuyên gia Giáo dục, Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) Việt Nam; Bà Nguyễn Hồng Oanh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Hành động Vì Sự Phát triển Hòa nhập; Ông Nguyễn Quang Thương, Giám đốc Công ty TNHH Doanh nghiệp Xã hội Trung tâm Phát triển và Hội nhập. Phiên thảo luận tập trung vào các tác động của công nghệ số đến nhóm yếu thế, đặc biệt là nhóm người khuyết tật và người mù, người cao tuổi,… Các ý kiến cho rằng, công nghệ số không chỉ là công cụ mà còn có tác động lớn đến đời sống của nhóm người khuyết tật. Thông qua các hoạt động, như: bán hàng online, lập trình web, kết bạn zalo, học tập trực tuyến, người khuyết tật được kết nối tinh thần, tìm bạn đời, tham gia/tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục. Tuy nhiên, người khuyết tật, đặc biệt nhóm ở vùng sâu, vùng xa, vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận công nghệ số do hạn chế hạ tầng, thiết bị và thiết kế chưa thân thiện, điển hình như khó khăn khi sử dụng ứng dụng VNeID. Mặc dù Việt Nam đã có quy định về bảo đảm khả năng tiếp cận cho người khuyết tật trong các sản phẩm, dịch vụ ICT, việc triển khai còn hạn chế so với chuẩn tiếp cận phổ quát quốc tế. Nhiều ý kiến nhấn mạnh, tính yếu thế xuất phát từ chính sách và thiết kế chưa bao trùm; do đó, cần bảo đảm sự tham gia của người khuyết tật ngay từ khâu xây dựng chính sách và thiết kế công nghệ để không ai bị bỏ lại phía sau.

Anh-tin-bai

Các diễn giả trong phiên thảo luận bàn tròn

      Phiên 2 với chủ đề Bảo đảm quyền và lợi ích của người dân trên môi trường số do Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) và PGS.TS. Tường Duy Kiên, Viện trưởng Viện Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh điều hành.

      Mở đầu là tham luận Bảo vệ quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương mới do sự phát triển của công nghệ số do GS.TS. Vũ Công Giao, Khoa Pháp luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội trình bày. Diễn giả chỉ ra các tác động tiêu cực của công nghệ số đến nhân quyền: Quyền về đời sống riêng tư, dữ liệu cá nhân; Quyền bình đẳng, tự do thông tin; Quấy rối, bạo lực và xâm hại trên không gian mạng; Bóc lột lao động số và quản lý bằng thuật toán; Quyền tiếp cận công lý và thủ tục công bằng; Quyền tiếp cận dịch vụ công và quyền phát triển; Dịch chuyển quyền lực, tập trung quyền lực vào các nền tảng công nghệ. Diễn giả cũng nhận diện nhóm dễ bị tổn thương mới là nhóm trẻ em, phụ nữ và trẻ em gái, nhóm người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và nhóm thu nhập thấp, lao động nền tảng / lao động số (gig workers), nhóm dân tộc thiểu số. Diễn giả chỉ ra nguyên nhân cốt lõi là sự phát triển quá nhanh của công nghệ số, vượt xa khả năng phản ứng của pháp luật và xã hội.

      Các tham luận tiếp theo tập trung làm rõ những vấn đề cốt lõi về quyền con người trong môi trường số, từ khung chủ trương, chính sách và cam kết quốc tế của Việt Nam, cách tiếp cận đối với “quyền dữ liệu”, đến quyền văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong bối cảnh số hóa, đồng thời đề xuất các giải pháp công nghệ nhằm hỗ trợ và bảo đảm quyền tiếp cận, thụ hưởng của các nhóm dân cư khác nhau.

      Hội thảo không chỉ là diễn đàn trao đổi học thuật, mà còn là không gian đối thoại chính sách, nơi các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức/đại biểu quốc tế và các cơ quan hoạt động thực tiễn cùng nhau phân tích, nhận diện và thảo luận những vấn đề cốt lõi đặt ra đối với việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong môi trường số. Theo Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, những năm gần đây Việt Nam đã ban hành nhiều Nghị quyết, chương trình và đạo luật quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ số và tăng cường quản trị không gian số. Năm 2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định công nghệ là ưu tiên chiến lược để tạo động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số ở trình độ tiên tiến. Cùng với đó, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Chuyển đổi số và Luật Trí tuệ nhân tạo, từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý tương đối đồng bộ cho các hoạt động trên môi trường số. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển công nghệ đang diễn ra nhanh hơn chính sách, đòi hỏi phải kịp thời nhận diện những tác động đa chiều của công nghệ số đối với từng nhóm dân cư. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong tiến trình chuyển đổi số bao trùm và bền vững, việc đánh giá tác động xã hội của công nghệ số và hoàn thiện các chính sách tương ứng được xem là yêu cầu cấp thiết./.

Phạm Thị Tính

 

Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com