Quan điểm của Đảng ta về bảo đảm an ninh con người trong bối cảnh chuyển đổi số
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và có tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, chuyển đổi số đang được Đảng và Nhà nước ta chú trọng, nó đã mở ra không ít cơ hội cho người dân. Tuy nhiên, chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với bảo đảm an ninh con người. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận của chuyển đổi số, của an ninh con người trong bối cảnh số và quan điểm của Đảng ta về các vấn đề này; Một số kết quả đạt được và những thách thức đặt ra đối với việc bảo đảm an ninh con người trong bối cảnh số ở V.iệt Nam. Từ đó đưa ra một số giải pháp bảo đảm an ninh con người trong tiến trình chuyển đổi số ở Việt Nam

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư (CMCN 4.0) phát triển nhanh và mạnh, chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, quản trị quốc gia và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, tạo nền tảng để đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 52/2019-NQ/TW của Bộ Chính trị về chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0). Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội to lớn mà chuyển đổi số đem lại cho con người, nó cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với an ninh con người như mất an toàn dữ liệu cá nhân, tội phạm mạng, thao túng thông tin, bất bình đẳng số và nguy cơ lệ thuộc công nghệ. Không gian mạng ngày càng trở thành môi trường tác động trực tiếp đến quyền con người, đời sống tinh thần và sự ổn định xã hội. Nghị quyết số 57/2024-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân” như một yêu cầu xuyên suốt trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo đảm an ninh con người trong bối cảnh số có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây không chỉ là cơ sở để nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa chuyển đổi số và phát triển con người, mà còn góp phần làm rõ định hướng xây dựng xã hội số an toàn, nhân văn và phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.

2. Cơ sở lý luận của chuyển đổi số và vấn đề ninh con người trong thời đại số

2.1. Cơ sở lý luận về chuyển đổi số và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam

Chuyển đổi số là một trong những xu thế phát triển nổi bật của thời đại CMCN 4.0. Đây không chỉ là sự thay đổi về mặt công nghệ mà còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội dựa trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số. Vì vậy, nghiên cứu cơ sở lý luận của chuyển đổi số có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức đúng bản chất, vai trò và định hướng phát triển của quá trình này.

Theo cách hiểu phổ biến nhất, chuyển đổi số là quá trình ứng dụng công nghệ số vào mọi lĩnh vực của đời sống nhằm thay đổi căn bản phương thức quản lý, sản xuất, kinh doanh và tương tác xã hội. Một số nghiên cứu cho rằng cần phân biệt giữa “số hóa” (digitization), “tin học hóa” hay “khai thác cơ hội số” (digitalization) với “chuyển đổi số” (digital transformation). Trong đó: Số hóa là chuyển đổi dữ liệu từ dạng vật lý sang dạng số; Khai thác cơ hội số là ứng dụng dữ liệu và công nghệ số để tối ưu quy trình hoạt động; Chuyển đổi số là sự thay đổi toàn diện mô hình hoạt động, phương thức quản trị và giá trị tạo ra dựa trên công nghệ số. Như vậy, có thể hiểu: chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân và tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất trên môi trường số với các công nghệ số. Các mô hình và quá trình kinh doanh số sẽ tái cấu trúc nền kinh tế. Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi ở cấp độ hệ thống nhằm thay đổi hành vi trên quy mô lớn. Bản chất của chuyển đổi số là sáng tạo (Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam, 2020).

Theo Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ thì “Chuyển đổi số là quá trình sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân và tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất trên môi trường số”. Như vậy, bản chất của chuyển đổi số không chỉ là đổi mới công nghệ mà là sự thay đổi toàn diện về tư duy phát triển, mô hình tổ chức và phương thức vận hành của xã hội hiện đại.

Từ đó có thể hiểu, chuyển đổi số là quá trình thay đổi toàn diện hoạt động của cá nhân, tổ chức và quốc gia dựa trên nền tảng công nghệ số. Đây không chỉ là việc số hóa dữ liệu mà còn là sự thay đổi phương thức quản trị, mô hình kinh doanh, cách thức lao động và tương tác xã hội.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về chuyển đổi số

Ở Việt Nam, chuyển đổi số được xác định là định hướng chiến lược quan trọng trong phát triển đất nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, thực hiện chuyển đổi số quốc gia”. Ngày 27/9/2019 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về chủ động tham gia CMCN 4.0. Đây là văn kiện mang tính bước ngoặt định hướng chiến lược quốc gia, nhằm đưa Việt Nam chủ động tham gia tích cực vào CMCN 4.0 với xác định chuyển đổi số là động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để đưa Nghị quyết vào cuộc sống, ngày 03/06/2020 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749-QĐ/TTg về Chương trình chuyển đổi số quốc gia với ba trụ cột là: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số nhằm xây dựng nền kinh tế hiện đại, nâng cao hiệu quả quản trị và phục vụ người dân tốt hơn. Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước là lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của chuyển đổi số; phát triển công nghệ gắn với bảo đảm an ninh mạng, chủ quyền số và phát triển bền vững.

Với sự quyết tâm và nỗ lực của Đảng, Nhà nước và doanh nghiệp, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, thương mại điện tử, quản lý nhà nước/dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng công nghệ số trong giáo dục, y tế, giao thông vận tải & Logistics, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp... làm thay đổi căn bản các thói quen sinh hoạt của người dân, rút ngắn khoảng cách không gian, tăng tốc độ xử lý thông tin và tạo ra nhiều cơ hội phát triển mới. Tuy nhiên, chuyển đổi số cũng khiến con người đối mặt với nhiều nguy cơ mới vì mất an ninh, an toàn trên môi trường số.

2.2. Cơ sở lý luận về an ninh con người và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta

Khái niệm an ninh con người được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) chính thức đề cập trong Báo cáo Phát triển con người năm 1994. Đó là sự bảo đảm cho con người “thoát khỏi sợ hãi”, “thoát khỏi thiếu thốn” và tự do để sống trong phẩm giá. Báo cáo của UNDP (1994) đã mở rộng nội hàm khái niệm an ninh trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự gia tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống trong đó nhấn mạnh việc bảo vệ con người trước các nguy cơ đe dọa đến sự sống, quyền tự do và điều kiện phát triển. Nếu như trước đây an ninh chủ yếu được hiểu theo nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia trước các mối đe dọa quân sự thì ngày nay, an ninh tiếp cận một cách toàn diện hơn, lấy con người làm trung tâm của mọi sự phát triển và đặc biệt chú trọng đến bảy phương diện: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị.

Trong thời đại số, an ninh con người không chỉ giới hạn ở các nguy cơ truyền thống mà mở rộng sang các vấn đề trên không gian số, như: An ninh dữ liệu (Data Security) bảo vệ dữ liệu cá nhân khỏi lộ lọt, sử dụng sai mục đích hoặc bị thao túng; An ninh nhận dạng số (Digital Identity Security) bảo vệ danh tính, tài khoản, hồ sơ công dân số và quyền kiểm soát danh tính; An ninh hạ tầng số (Infrastructure Security) nhằm bảo đảm an toàn mạng, hệ thống thông tin, và ổn định của các dịch vụ thiết yếu; An ninh thuật toán (Algorithmic Security) minh bạch, không phân biệt đối xử, khả năng giải trình của hệ thống ra quyết định dựa trên AI; An ninh/quyền riêng tư (Privacy Security) bảo vệ cá nhân kiểm soát dữ liệu và tự chủ thông tin trong môi trường số. Trong môi trường số, con người có thể bị tổn thương không chỉ bởi chiến tranh hay đói nghèo mà còn bởi việc bị đánh cắp dữ liệu cá nhân, thao túng thông tin hoặc bị loại khỏi đời sống số.

Amartya Sen (2000) cho rằng, an ninh con người không chỉ gắn với việc bảo vệ sự sống còn của con người mà còn liên quan đến việc mở rộng năng lực và cơ hội phát triển của con người. Và, bảo đảm an ninh con người cần được tiếp cận trên cả phương diện bảo vệ con người trước các nguy cơ và tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện trong xã hội hiện đại.

Ở Việt Nam, vấn đề an ninh con người ngày càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đặc biệt là từ tại Đại hội XIII, an ninh con người được đặt ở vị trí trung tâm, là mục tiêu xuyên suốt và là thước đo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đến Đại hội XIV, khái niệm an ninh con người được mở rộng thêm, không chỉ là an toàn về thể chất, kinh tế và xã hội mà còn mở rộng sang an ninh thông tin, dữ liệu cá nhân, an toàn trên không gian mạng, được bảo vệ trước các tác động tiêu cực của môi trường số.

Như vậy, có thể hiểu: An ninh con người trong thời đại số là trạng thái con người được bảo vệ toàn diện cả về thể chất, tinh thần, quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân, cơ hội phát triển và khả năng tiếp cận công nghệ an toàn, bình đẳng trong môi trường số và các biến đổi của xã hội số.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về an ninh con người trong thời đại số

Ở Việt Nam, bảo đảm an ninh con người được hình thành và phát triển trên cơ sở tư tưởng “lấy người dân làm trung tâm”. Đây là sự kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tư duy hiện đại về phát triển bền vững và quyền con người. Từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng đã xác định mục tiêu xây dựng xã hội trong đó “con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991). Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển.

Qua các kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng về an ninh con người ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn. Đại hội XI nhấn mạnh bảo đảm cho con người “có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Đại hội XII, thuật ngữ “an ninh con người” lần đầu tiên được đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng, gắn với yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đại hội XIII đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận về an ninh con người khi xác định, bảo đảm an ninh con người phải gắn với bảo đảm quyền con người, phát triển con người toàn diện và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể của quá trình phát triển. Đồng thời nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm “an ninh mạng”, “an ninh kinh tế”, xây dựng xã hội an toàn và lành mạnh trước những tác động của CMCN 4.0 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Đến Đại hội XIV, quan điểm mới trong tư duy của Đảng là gắn bảo đảm an ninh con người với xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền con người trong môi trường số. Quyền con người không chỉ là giá trị chính trị – pháp lý mà còn là động lực của đổi mới sáng tạo và phát triển xã hội hiện đại. Lần đầu tiên, an ninh con người được gắn kết biện chứng với ba chuyển đổi chiến lược quốc gia: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn. Đảng xác định phải chủ động xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh; bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; tăng cường năng lực bảo vệ dữ liệu và an toàn thông tin cho tổ chức, cá nhân. Đây là biểu hiện của tư duy an ninh trong bối cảnh mới, an ninh con người được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với bảo vệ quốc gia và phát triển bền vững. Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường sống an toàn, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội cơ bản và không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển.

Picture 4

 

Bảo đảm an ninh con người, lấy người dân làm trung tâm trong tiến trình chuyển đổi số

(Nguồn ảnh: Tạo lập bởi Gemini)

3. Thực trạng bảo đảm an ninh con người trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam

3.1. Một số kết quả đạt được

Trước hết, phải kể đến hệ thống hạ tầng số và dữ liệu số quốc gia từng bước được hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị xã hội và phục vụ người dân. Việc triển khai Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử tạo nền tảng quan trọng cho xây dựng hình ảnh công dân số và các dịch vụ số phục vụ người dân. Các cơ sở dữ liệu quốc gia từng bước được kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân trong tiếp cận các thủ tục dịch vụ hành chính công. Dữ liệu và công nghệ số được ứng dụng rộng trong mọi lĩnh vực của đời sống. Việt Nam nằm trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; trở thành trung tâm kết nối dữ liệu và phát triển công nghiệp số quan trọng của khu vực Châu Á (PV, 2026).

Việc phát triển chính phủ số và dịch vụ công trực tuyến đã giúp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân, giảm chi phí đi lại, tăng tính minh bạch trong quản lý. Điều này góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, dịch vụ công của người dân. Chính phủ đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, và tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp (Ban chỉ đạo Đề án 06, 2026).

Trong lĩnh vực dịch vụ xã hội, chuyển đổi số góp phần mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế, an sinh xã hội và các dịch vụ thiết yếu cho người dân. Các nền tảng học trực tuyến, khám bệnh từ xa, thương mại điện tử, thi tuyển, làm việc online, hội nghị/hội thảo trực tuyến… tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện. Chuyển đổi số từng bước góp phần nâng cao chất lượng sống, thu hẹp khoảng cách tiếp cận số giữa các khu vực, nhóm xã hội khác nhau (Báo Nhân dân, 2022).

Nhận thức xã hội về chuyển đổi số và kỹ năng số của người dân ngày càng được nâng cao. Các chương trình phổ cập kỹ năng số, phát triển công dân số và xây dựng văn hóa số được triển khai rộng rãi, góp phần nâng cao khả năng thích ứng của người dân trong môi trường số. Hệ thống chính sách, pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn thông tin từng bước được hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trên môi trường mạng. Công tác phòng chống tội phạm công nghệ cao và bảo vệ an toàn thông tin trên môi trường số ngày càng được chú trọng, góp phần nâng cao niềm tin xã hội trong quá trình chuyển đổi số quốc gia (Văn Toàn, 2026).

Một số kết quả bước đầu này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong xã hội số. Đó là cơ sở quan trọng để thúc đẩy hoạt động xây dựng xã hội số an toàn và phát triển bền vững trong thời gian tới.

3.2. Một số thách thức đặt ra với bảo đảm an ninh con người trên không gian số

Thứ nhất, nguy cơ mất an toàn dữ liệu cá nhân và gia tăng tội phạm công nghệ. Sự phát triển các nền tảng số, mạng xã hội và dịch vụ trực tuyến làm gia tăng nguy cơ lộ lọt thông tin, mua bán và khai thác trái phép dữ liệu cá nhân. Nhiều vụ lừa đảo trực tuyến chiếm đoạt tài sản qua mạng, giả mạo thông tin và tấn công mạng diễn ra với phương thức ngày càng tinh vi, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, tài sản và tâm lý người dân. Theo Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, Lừa đảo trực tuyến tiếp tục hoành hành, gây những hậu quả nặng nề với hàng trăm nghìn người dùng Việt Nam trong năm 2024. Có tới 66,24% người dùng xác nhận rằng thông tin của họ từng bị sử dụng trái phép. Tổng thiệt hại do lừa đảo trực tuyến gây ra trong năm 2024 ước tính lên tới 18.900 tỷ đồng. Thực tế số nạn nhân bị lừa đảo rất lớn nhưng số có thể lấy lại được tiền rất nhỏ. Khi bị mắc bẫy lừa đảo, mặc dù 88,98% người dùng cho biết họ đã ngay lập tức cảnh báo, trao đổi với người thân bạn bè, nhưng chỉ có 45,69% người được hỏi trả lời có báo cáo với cơ quan chức năng, đây là tỷ lệ khá thấp. Có thể nói, nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng đang trở thành một trong các thách thức lớn với bảo đảm an ninh con người (Lâm Thảo, 2024).

Thứ hai, sự lan truyền thông tin xấu độc và nguy cơ tác động tiêu cực đến nhận thức xã hội, không gian mạng đang trở thành môi trường truyền tải thông tin chủ yếu trong xã hội hiện nay. Đây cũng là môi trường dễ bị các thế lực phản động lợi dụng để phát tán tin giả, tin độc hại, đưa nội dung dễ gây kích động, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Các thế lực phản động luôn lợi dụng mạng xã hội để đưa tin giả/xuyên tạc đánh lạc hướng người dân, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin xã hội vào hệ thống chính trị (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2023). Trong môi trường số, các loại tin giả, tin xấu độc lan truyền nhanh do sự hỗ trợ của thuật toán và công nghệ trí tuệ nhân tạo. Những tác động tiêu cực này không chỉ dừng ở việc gây nhiễu loạn thông tin mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức xã hội, niềm tin chính trị và sự đồng thuận xã hội với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ ba, nguy cơ gia tăng bất bình đẳng số và loại trừ số. Chuyển đổi số tạo ra nhiều cơ hội phát triển, song khoảng cách số giữa các nhóm xã hội và khu vực vẫn còn tồn tại khá phổ biến. Theo Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia năm 2023, tỷ lệ tiếp cận và sử dụng dịch vụ số giữa khu vực thành thị và nông thôn còn có sự chênh lệch đáng kể. Người cao tuổi, người có thu nhập thấp, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người dân vùng sâu, vùng xa vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận công nghệ và kỹ năng số, có nguy cơ bị “bỏ lại phía sau” trong quá trình phát triển. Khoảng cách số không chỉ làm hạn chế quyền tiếp cận thông tin và dịch vụ xã hội số mà còn có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng mới, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển của con người.

Thứ tư, những tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần và văn hóa xã hội. Tình trạng lệ thuộc vào mạng xã hội, nghiện Internet, bạo lực mạng, lệch chuẩn văn hóa ứng xử trên không gian mạng có xu hướng tăng, đặc biệt trong giới trẻ. Theo UNICEF, thế giới mạng đang trở thành không gian "sống" thứ hai của trẻ nói chung, trong đó có trẻ em Việt Nam. Và, đã có những cảnh báo không thể không lưu tâm từ không gian mạng trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh cơ hội học tập, kết nối, thể hiện bản thân, môi trường mạng đặt ra bài toán như: bắt nạt trực tuyến đến xâm hại, bóc lột tình dục và nhiều hệ lụy khác. Khảo sát do UNICEF, Interpol và ECPAT hồi năm 2022 cho thấy khoảng 89% trẻ em Việt Nam từ 12-17 tuổi sử dụng Internet, riêng nhóm 14-15 tuổi lên tới 93%. Một rủi ro phổ biến là bắt nạt trực tuyến. Nếu hành vi này trước đây chủ yếu diễn ra trong lớp học hay khu dân cư thì nay chỉ một bức ảnh, clip hay bình luận ác ý có thể lan truyền tốc độ rất nhanh trên mạng xã hội. Trẻ có thể bị công kích, xúc phạm, đe dọa bởi cả người lạ lẫn bạn bè để lại tổn thương tâm lý kéo dài (UNCEF, 2026). Những tác động từ bắt nạt trực tuyến không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần mà còn đặt ra thách thức với việc xây dựng môi trường xã hội an toàn, lành mạnh.

Thứ năm, yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng ngày càng phức tạp: Không gian mạng đang trở thành mặt trận quan trọng trong đấu tranh tư tưởng. Các thế lực thù địch tăng cường sử dụng Internet, nền tảng số truyền bá các quan điểm xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động chống phá Đảng và Nhà nước. Yêu cầu đặt ra hện nay là phải tăng cường năng lực quản trị trên không gian mạng, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin giả do các thế lực thù địch/chống phá đặt ra, đồng thời tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức cho người dân về các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực. Nghị quyết số 35/2018-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ yêu cầu tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Qua đó cho thấy, bảo đảm an ninh con người trên môi trường số cần gắn chặt với nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Có thể nói, quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức mới với bảo đảm an ninh con người trên cả phương diện kinh tế, xã hội, thông tin và tư tưởng. Điều này đòi hỏi các giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm phát triển số gắn với an toàn, an ninh quốc gia và phát triển con người bền vững.

Picture 5

 

Tăng cường bảo mật thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trên không gian mạng

(Nguồn ảnh: Tạo lập bởi Gemini)

4. Giải pháp bảo đảm an ninh con người trong tiến trình chuyển đổi số ở Việt Nam

4.1. Hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo đảm an ninh con người trên không gian mạng

Thứ nhất, tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư của công dân . Đây nguồn tài nguyên rất quan trọng trong hội số. Tuy nhiên, tình trạng thu thập, mua bán, khai thác trái phép dữ liệu nhân trên không gian mạng đang diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến quyền riêng tư, an toàn tài sản đời sống của người dân. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng nâng cao trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp trong thu thập, lưu trữ sử dụng dữ liệu; đồng thời tăng cường cơ chế giám sát, xử lý vi phạm và nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ dữ liệu cá nhân ( N ghị định số 13/2023/NĐ-CP của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân) .

Thứ hai, tăng cường quản các nền tảng số không gian mạng . Sự phát triển của các nền tảng số và mạng xã hội tạo ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế số cho người dân. Tuy nhiên, một số nền tảng số chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong kiểm soát nội dung, bảo vệ dữ liệu người dùng, phối hợp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý nền tảng số theo hướng nâng cao trách nhiệm các doanh nghiệp công nghệ trong bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ quyền lợi người dùng hợp pháp. Cần xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với các nền tảng, bảo đảm chủ quyền số quốc gia, tăng cường năng lực quản trị mạng hạn chế các tác động tiêu cực từ môi trường số.

4.2. Nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho người dân

Thứ nhất, nâng cao kỹ năng số cho người dân: Đây là năng lực thiết yếu của công dân số trong xã hội số. Tuy nhiên, kỹ năng số của người dân hiện còn thấp, chưa đồng đều giữa các vùng miền và nhóm xã hội. Vì vậy, cần đẩy mạnh các chương trình phổ cập kỹ năng số cho người dân; tăng cường đào tạo kỹ năng sử dụng Internet an toàn, bảo mật thông tin cá nhân và khai thác hiệu quả các dịch vụ số. Chính phủ đã xác định phát triển công dân số và phổ cập kỹ năng số cho người dân là nhiệm vụ quan trọng nhằm thúc đẩy xây dựng xã hội số ở Việt Nam (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030).

Thứ hai, nâng cao kỹ năng nhận diện tin giả và thông tin xấu độc . Theo Bộ Thông tin và Truyền thông (2023) , tình trạng tin giả, tin xấu độc trên không gian mạng xu hướng gia tăng gây ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của người dân. Do đó, việc nâng cao kỹ năng nhận diện, kiểm chứng và sàng lọc thông tin cho người dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ an ninh thông tin. Để hạn chế số người bị lừa đảo do tin giả, tin xấu cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao khả năng phản biện trước các nội dung sai lệch. Đồng thời, cần phát huy vai trò của báo chí chính thống trong định hướng luận xã hội và cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho người dân.

4.3.Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả truyền thông chính thống trên không gian mạng . Trong môi trường số, thông tin lan truyền nhanh không biên giới, tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nguồn tin. Do đó, đòi hỏi các cơ quan báo chí, truyền thông chính thống phải chủ động đổi mới nội dung, phương thức truyền tải đáp ứng khả năng tiếp cận công chúng trên nền tảng số; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động báo chí, truyền thông; cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, khách quan, có tính định hướng xã hội ( N ghị quyết số 35 /2018 -NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tưởng của Đảng , đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới) . Đồng thời, nâng cao chất lượng truyền thông về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong bối cảnh mới nhằm củng cố niềm tin của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội.

Thứ hai, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng . Không gian mạng một trong những mặt trận trọng yếu trong đấu tranh tưởng. Các thế lực chống phá luôn lợi dụng mạng hội để truyền bá thông tin sai lệch, xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng kích động chống phá Nhà nước. Do đó, cần tăng cường năng lực nhận diện, phát hiện kịp thời các thông tin sai trái, mang tính chống phá trên mạng cho người dân. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và lực lượng truyền thông trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc bằng các lập luận khoa học, thuyết phục và phù hợp với môi trường số.

Thứ ba, xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh và nhân văn . Hiện nay, tình trạng phát tán nội dung độc hại, bạo lực mạng, xúc phạm danh dự cá nhân và lệch chuẩn văn hóa ứng xử trên không gian mạng diễn ra phức tạp. Vì vậy, cần giao trách nhiệm cho các nền tảng số trong kiểm soát nội dung vi phạm. Đồng thời, cần đẩy mạnh xây dựng văn hóa ứng xử văn minh trên không gian mạng; khuyến khích người dân sử dụng mạng xã hội tích cực, có trách nhiệm và phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa.

Tăng cường bảo vệ nền tảng tưởng của Đảng trên không gian mạng không chỉ là yêu cầu của công tác bảo vệ an ninh chính trị, tư tưởng mà còn góp phần quan trọng trong bảo đảm an ninh con người, củng cố niềm tin hội giữ vững ổn định chính trị, xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

4.4. Bảo đảm công bằng và bao trùm số

Thứ nhất, tăng cường hỗ trợ các vùng khó khăn trong tiếp cận hạ tầng và dịch vụ số . Việt Nam hạ tầng viễn thông, Internet khả năng tiếp cận các dịch vụ số ở một số vùng còn hạn chế, ảnh hưởng đến quyền tiếp cận của người dân. Vì vậy, cần tiếp tục đầu phát triển hạ tầng số đồng bộ, mở rộng vùng phủ sóng Internet, nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông tại các khu vực khó khăn nhằm bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận môi trường số. Đồng thời, ưu tiên triển khai các chương trình phổ cập kỹ năng số, hỗ trợ sử dụng dịch vụ công trực tuyến và thanh toán số cho người dân ở khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo.

Thứ hai, hỗ trợ các nhóm yếu thế tiếp cận công nghệ số . Trong xã hội số, một số nhóm hội nguy bị “loại trừ số” do hạn chế về kinh tế, trình độ học vấn và kỹ năng công nghệ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin, dịch vụ xã hội mà còn làm gia tăng nguy cơ bất bình đẳng trong phát triển. Do đó, cần xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp giúp nhóm yếu thế tiếp cận công nghệ, tham gia hiệu quả vào môi trường số, như: tăng thiết bị số, hạ tầng kết nối các chương trình đào tạo kỹ năng số bản; phát triển các nền tảng số thân thiện, dễ sử dụng, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Cần chú trọng phát triển nội dung số với nhiều ngôn ngữ và hình thức phù hợp để tất cả đều có thể tiếp cận.

Kết luận

Chuyển đổi số là xu thế tất yếu của thời đại và là động lực quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, sự phát triển của công nghệ số không chỉ đem đến cơ hội mà cũng đặt ra nhiều thách thức mới với an ninh con người như mất an toàn dữ liệu, bất bình đẳng số, tội phạm mạng, khủng hoảng tâm lý xã hội… Trong bối cảnh đó, bảo đảm an ninh con người cần được xem là mục tiêu trung tâm của quá trình chuyển đổi số. Mọi chính sách công nghệ phải hướng tới phục vụ con người, bảo vệ quyền và lợi ích của người dân, đồng thời tạo điều kiện để mọi người dân được tham gia bình đẳng vào xã hội số.

Một quốc gia/chính phủ số/xã hội số không chỉ được đo bằng tốc độ internet, số lượng dữ liệu hay mức độ tự động hóa, mà còn được đo bằng khả năng bảo vệ con người trước những “cơn bão vô hình” của thời đại công nghệ. Chỉ khi con người thực sự an toàn, được bảo vệ và được trao quyền trong xã hội số, chuyển đổi số mới trở thành động lực phát triển bền vững và nhân văn của người dân Việt Nam trong thế kỷ XXI.

Phạm Thị Tính

Tài liệu tham khảo

Báo Điện tử Chính phủ. (2026). Thủ tướng chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 . https://baochinhphu.vn/thu-tuong-chu-tri-phien-hop-ban-chi-dao-ve-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-chuyen-doi-so-va-de-an-06-102260512084001684.htm

Báo Nhân Dân. (2022). Bứt phá nhờ chuyển đổi số quốc gia . https://nhandan.vn/special/chuyendoisoquocgia/index.html

Báo Nhân Dân. (2026). Bài 2: An ninh mạng – nền tảng của niềm tin số trong chuyển đổi số quốc gia . https://nhandan.vn/bai-2-an-ninh-mang-nen-tang-cua-niem-tin-so-trong-chuyen-doi-so-quoc-gia-post963481.html

Bộ Thông tin và Truyền thông. (2023). Báo cáo chuyển đổi số quốc gia năm 2023 .

Đảng Cộng sản Việt Nam. (1991). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Báo Nhân dân điện tử. https://nhandan.vn/cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-post935095.html

Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII . Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam., (2020). Khái niệm chuyển đổi sốvà chuyển đổi số trong giáo dục đạihọc – Tài liệu tham khảo

Lâm Thảo. (2024). NCA: Năm 2024, ước tính người Việt mất 18.900 tỷ đồng do lừa đảo trực tuyến . Báo Nhân dân điện tử, https://nhandan.vn/nca-nam-2024-uoc-tinh-nguoi-viet-mat-18900-ty-dong-do-lua-dao-truc-tuyen-post850801.html ngày16/12/2024.

Lâm, Tùng. (2022). 5 mục tiêu chiến lược trong đảm bảo an toàn không gian mạng thời kỳ chuyển đổi số . https://mst.gov.vn/5-muc-tieu-chien-luoc-trong-dam-bao-an-toan-khong-gian-mang-thoi-ky-chuyen-doi-so-197154804.htm

PV. (2026). Thúc đẩy phát triển, ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử mạnh mẽ, toàn diện, sâu rộng trong mọi lĩnh vực . Báo Bảo vệ pháp luật. https://baovephapluat.vn/kiem-sat-24h/chinh-sach-moi/thuc-day-phat-trien-ung-dung-du-lieu-dan-cu-dinh-danh-va-xac-thuc-dien-tu-manh-me-toan-dien-sau-rong-trong-moi-linh-vuc-198719.html

Sen, A. (2000). Why human security? Tham luận trình bày tại Hội thảo quốc tế về An ninh con người, Tokyo, Nhật Bản.

UNICEF Việt Nam. (2026). Bắt nạt trực tuyến: Không gian ảo, tổn hại với trẻ là thật! ngày 24 /06/2026. https://www.unicef.org/vietnam/vi/bat-nat-truc-tuyen-khong-gian-ao-ton-hai-voi-tre-la-that

United Nations Development Programme. (1994). Human development report 1994: New dimensions of human security . Oxford University Press.

Văn Toàn. (2026). Dữ liệu là nền tảng "then chốt" của chuyển đổi số . Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng. https://danang.gov.vn/vi/web/dng/w/du-lieu-la-nen-tang-then-chot-cua-chuyen-doi-so

Vinh , Thủy. (2021). An ninh mạng là chiếc khiên vững chắc bảo vệ thành quả chuyển đổi số . Báo Công an nhân dân. https://cand.vn/an-ninh-mang-la-chiec-khien-vung-chac-bao-ve-thanh-qua-chuyen-doi-so-post595790.html

Tin mới
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com