SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CHỈ SỐ HDI VIỆT NAM
1. Thống kê chỉ số HDI Việt Nam từ 1990 đến 2015
Chỉ số HDI Việt Nam từ 1990 đến 2009
|
Năm
|
Chỉ số HDI
|
Xếp hạng
|
|
1990
|
0,439
|
75/130
|
|
1991
|
0,498
|
99/160
|
|
1992
|
0,464
|
102/160
|
|
1993
|
0,472
|
115/173
|
|
1994
|
0,514
|
116/173
|
|
1995
|
0,539
|
120/174
|
|
1996
|
0,540
|
121/174
|
|
1997
|
0,557
|
121/175
|
|
1998
|
0,560
|
122/174
|
|
1999
|
0,560
|
122/174
|
|
2000
|
0,671
|
108/174
|
|
2001
|
0,683
|
101/162
|
|
2002
|
0,688
|
109/173
|
|
2003
|
0,688
|
109/175
|
|
2004
|
0,691
|
112/177
|
|
2005
|
0,704
|
108/177
|
|
2006
|
0,709
|
109/177
|
|
2007 - 2008
|
0,733
|
105/177
|
|
2009
|
0,725
|
116/182
|
Từ năm 2010, có sự thay đổi trong cách tính toán chỉ số HDI, chỉ số HDI có điều chỉnh khía cạnh bất bình đẳng. Chỉ số này giảm các giá trị HDI quốc gia theo mức độ bất bình đẳng trong ba trụ cột của HDI. Vì vậy, từ năm 2010, chỉ số HDI Việt Nam có sự thay đổi so với những năm trước.
Chỉ số HDI Việt Nam từ 2010 đến 2015
|
Năm
|
Chỉ số HDI
|
Xếp hạng
|
|
2010
|
0,572
|
113/169
|
|
2011
|
0,593
|
128/187
|
|
2012
(không có BC)
|
-
|
-
|
|
2013
|
0,617
|
127/186
|
|
2014
|
0,638
|
121/187
|
|
2015
|
0,666
|
116/188
|
2. Sự biến đổi của chỉ số HDI Việt Nam
Kể từ lần đầu tiên được UNDP công bố vào năm 1990, đến nay chỉ số HDI của Việt Nam tăng dần đều qua các năm mặc dù sự tăng trưởng chưa phải là cao. Chỉ có hai lần chỉ số HDI có sự giảm nhẹ so với năm trước, đó là năm 1992 (0,464) giảm so với năm 1991 (0,498), và năm 2009 (0,725) giảm so với năm 2008 (0,733). Từ một quốc gia có chỉ số phát triển con người thấp, Việt Nam đã vươn lên nhóm nước có chỉ số phát triển con người trung bình. Một điều đáng lưu ý là so với những nước cùng thứ hạng, về tăng trưởng kinh tế Việt Nam còn thua kém nhiều quốc gia nhưng về chỉ số phát triển con người Việt Nam đã ngang bằng, thậm chí còn cao hơn. Báo cáo Phát triển con người toàn cầu năm 1998 đã đưa ra bằng chứng là “trong số 174 quốc gia, Việt Nam là 1 trong 98 quốc gia có thứ hạng HDI cao hơn so với GDP đầu người, điều này cho thấy các quốc gia đã chuyển được những thành công về kinh tế sang năng lực của con người rất hiệu quả. Thành tựu này là rất đáng kể đối với những nước có thu nhập thấp như Việt Nam”. Báo cáo Phát triển Con người năm 2005 tiếp tục so sánh hai trường hợp Việt Nam và Mexico: “Cả Việt Nam và Mexico đều thuộc nhóm những nước toàn cầu hóa mới, đo bằng những chỉ báo kinh tế tiêu chuẩn. Nếu đo theo các chỉ báo về phát triển con người, hai nước này lại thuộc về những nhóm khác nhau. Sự tham gia sâu hơn vào thương mại đã duy trì những tiến bộ nhanh ở Việt Nam nhưng tại Mexico, “thành công” trong xuất khẩu đã song hành với sự tiến bộ hạn chế trong phát triển con người”. Trong những năm 1990, các mức nghèo thu nhập của Việt Nam đã giảm từ 58% xuống 28%, tuổi thọ bình quân tăng thêm 6 năm, và tỷ lệ tử vong trẻ em được giảm đi một nửa. Bất bình đẳng tăng nhưng từ một mức nền thấp. Hệ số GINI tăng từ 35,7 vào đầu những năm 1990 lên 37 vào cuối thập kỷ, vẫn là một trong những mức thấp nhất thế giới. Xếp hạng HDI của Việt Nam hiện cao hơn xếp hạng về của cải 16 bậc. Vì vậy, trong so sánh quốc tế ở giai đoạn 1990 – 2000, xếp hạng HDI của Việt Nam cao hơn một số nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Việt Nam là một trong những trường hợp điển hình về thứ hạng HDI cao hơn thứ hạng GDP bình quân đầu người, thể hiện Việt Nam quan tâm đến mục tiêu phát triển con người trong điều kiện kinh tế còn khó khăn. Cụ thể là bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế, Việt Nam chú trọng đến việc phổ cập giáo dục, tăng tỷ lệ người lớn biết chữ, tăng tỷ lệ trẻ được tiêm chủng, hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi. Đây là những thành tựu rất đáng khích lệ đối với một quốc gia có thu nhập thấp như Việt Nam.
Tuy chỉ số HDI Việt Nam có sự tăng trưởng đều nhưng trong những năm gần đây chỉ số này có xu hướng tăng chậm lại.
Xu hướng tăng chỉ số HDI Việt Nam từ 1990 - 2012
|
Thay đổi thứ hạng HDI
|
Tăng trưởng HDI trung bình hàng năm (%)
|
|
2007 - 2012
|
2011 – 2012
|
1990 – 2000
|
2000 – 2010
|
2010 - 2012
|
|
0
|
0
|
1,98
|
1,37
|
1,22
|
Từ năm 2007 đến năm 2012, Việt Nam giữ nguyên thứ hạng trong bảng xếp hạng HDI trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng HDI trung bình hàng năm của Việt Nam đang có chiều hướng suy giảm, từ 1,98% trong giai đoạn 1990 – 2000 xuống còn 1,37% trong giai đoạn 2000 – 2010, trong 3 năm từ 2010 – 2012 giảm xuống chỉ còn 1,22%.
Kể từ năm 2010 có sự điều chỉnh trong việc tính toán chỉ số HDI. Chỉ số HDI được tính theo phương pháp mới có sự chênh lệch so với cách tính cũ, cụ thể là thấp hơn so với cách tính cũ. Một trong những lý do là vì số năm đi học trung bình và số năm đi học kỳ vọng của Việt Nam còn khá thấp nên đã làm giảm đáng kể chỉ số giáo dục, thêm một số yếu tố khác như sự gia tăng bất bình đẳng của Việt Nam chẳng hạn cũng đã kéo theo sự sụt giảm chỉ số HDI.
Báo cáo Phát triển Con người Việt Nam 2015 về Tăng trưởng Bao trùm cũng đưa ra một nhận định tương tự: về phát triển con người ở Việt Nam, kết quả ấn tượng, song không đồng đều và có xu hướng chững lại. Trong những năm đầu của thời kỳ Đổi mới, giai đoạn 1990 – 2000 chỉ số HDI có sự tăng trưởng nhanh. Việt Nam đã thực hiện tốt cả ba thành tố của phát triển con người là thu nhập, giáo dục và y tế. So sánh tiến bộ về phát triển con người giữa Việt Nam với một số nước trong khu vực trên cơ sở tính đến sự khác biệt về xuất phát điểm của trình độ phát triển cho thấy Việt Nam là nước có kết quả tốt nhất trong giai đoạn 1990 – 2000, song vị trí này đã bị lùi dần trên bảng xếp hạng trong hai giai đoạn sau là 2000 – 2008 và đặc biệt là từ 2008 trở lại đây. Vì vậy, xét ở cấp độ quốc gia chỉ số HDI của Việt Nam có tăng dần qua các năm nhưng so sánh tương quan với nhiều nước trong khu vực thì sự tiến bộ của Việt Nam không đáng kể, thậm chí là tụt lại đằng sau so với sự phát triển chung của khu vực và thế giới.
Nguyễn Vũ Quỳnh Anh
Tài liệu tham khảo:
1. Báo cáo Phát triển Con người Toàn cầu 1990 – 2015.
2. Báo cáo Phát triển Con người Việt Nam 2015.