Luật Tư pháp người chưa thành niên: Bước tiến trong bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên
Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong hoạt động tư pháp là một yêu cầu pháp lý quan trọng, đồng thời thể hiện tính nhân văn của nhà nước pháp quyền. Việc Quốc hội khóa XV thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên ngày 30/11/2024, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 được xem là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này. 
 

Theo Luật Tư pháp người chưa thành niên, người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi (Khoản 1, Điều 3). Theo số liệu tổng hợp đăng tải trên Báo Đại biểu Nhân dân, trung bình mỗi năm có khoảng 13.000 trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật; trong đó, nhóm từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (70,3%), còn nhóm từ 14 đến dưới 16 tuổi chiếm 24,5%[1]. Những con số này cho thấy tình trạng vi phạm pháp luật tập trung chủ yếu ở nhóm người chưa thành niên, đặc biệt là nhóm từ 16 đến dưới 18 tuổi, qua đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một cơ chế tư pháp riêng, phù hợp với đặc thù phát triển của nhóm đối tượng này.

Luật Tư pháp người chưa thành niên là đạo luật chuyên biệt đầu tiên thiết lập một khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện để giải quyết các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên trong hoạt động tư pháp. Luật gồm 10 chương, 179 điều.

Trước đây, các quy định pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi chủ yếu nằm rải rác trong các đạo luật chung. Chẳng hạn, Bộ luật Hình sự năm 2015 dành riêng một chương để quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội. Mặt khác, các quy định liên quan đến nhóm người chưa thành niên còn bộc lộ nhiều hạn chế, như thủ tục tố tụng chưa thực sự thân thiện; các biện pháp giám sát, giáo dục và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng còn khó triển khai trên thực tế... Việc ban hành Luật Tư pháp người chưa thành niên với tư cách là một đạo luật độc lập đã khắc phục những bất cập kéo dài, đồng thời phản ánh sự thay đổi trong tư duy chính sách, từ chỗ “lồng ghép” sang xây dựng một hệ thống tư pháp riêng, phù hợp hơn với đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên, qua đó tăng cường bảo vệ quyền con người một cách thực chất. Những quy định mới của Luật cho thấy nhiều chuyển biến trong cách tiếp cận đối với người chưa thành niên.

Trọng tâm vào giáo dục, hỗ trợ, tái hòa nhập hơn là xử lý vi phạm

Giáo dục được xác định là biện pháp trụ cột xuyên suốt, nhằm giúp người chưa thành niên hình thành ý thức tôn trọng pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, qua đó hạn chế nguy cơ tái phạm. Người chưa thành niên không còn bị nhìn nhận như đối tượng xử lý vi phạm, mà được coi là những chủ thể cần được bảo vệ, đồng hành và tạo điều kiện phát triển.

So với các quy định trước đây, Luật Tư pháp người chưa thành niên có sự phân hóa rõ hơn theo độ tuổi, được thể hiện qua việc phân biệt nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi và nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi trong việc áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc hình phạt. Cách phân chia này giúp việc xử lý được thực hiện linh hoạt, phù hợp với mức độ phát triển tâm sinh lý của từng nhóm tuổi, đồng thời góp phần nâng cao tính khả thi của các biện pháp giám sát và giáo dục. Vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng cũng được đề cao trong quá trình đồng hành cùng người chưa thành niên. Đây là định hướng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và xu hướng tư pháp mang tính nhân văn trong xử lý các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên đang được nhiều quốc gia áp dụng.

Đặc biệt, Luật chủ trương hạn chế tối đa việc áp dụng các biện pháp tước tự do, coi đây là lựa chọn cuối cùng trong xử lý vi phạm, đồng thời mở rộng các biện pháp chuyển chướng. Theo đó, hình phạt tù chỉ được áp dụng khi các biện pháp khác không còn tác dụng răn đe, phòng ngừa (Khoản 4, Điều 12) hoặc đối với một số tội đặc biệt nghiêm trọng như: giết người, hiếp dâm, cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, sản xuất trái phép chất ma túy. Bên cạnh đó, Luật còn mở rộng các biện pháp xử lý chuyển hướng phù hợp với đặc thù của người chưa thành niên như: khiển trách; xin lỗi người bị hại; giáo dục tại xã/phường; quản thúc tại gia đình; hạn chế khung giờ đi lại; cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới; tham gia chương trình học tập, dạy nghề; tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý; thực hiện công việc phục vụ cộng đồng hoặc giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 36). Những quy định này thể hiện rõ sự chuyển dịch từ cách tiếp cận thiên về trừng phạt sang định hướng phòng ngừa và phục hồi, đặt trọng tâm vào khả năng tái hòa nhập và lợi ích lâu dài của người chưa thành niên.

Quyền, lợi ích và sự phát triển toàn diện của người chưa thành niên được đảm bảo

Trên thực tế, dù tham gia tố tụng với tư cách là người bị buộc tội, người bị hại hay người làm chứng thì người chưa thành niên vẫn phải đối diện với nhiều rủi ro, từ tổn thương tâm lý, sự kỳ thị xã hội đến nguy cơ bị xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp, ngay cả khi đã có người giám hộ hoặc người bào chữa. Luật Tư pháp người chưa thành niên đã khẳng định rõ nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên trong toàn bộ quá trình tố tụng. Nguyên tắc này không chỉ dừng lại ở tuyên bố chung mà được cụ thể hóa thông qua các quy định về thủ tục tố tụng, biện pháp xử lý và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng. Theo đó, mọi quyết định đều phải đặt quyền, lợi ích và sự phát triển toàn diện của người chưa thành niên lên hàng đầu. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “xử lý” sang cách tiếp cận lấy người chưa thành niên làm trung tâm.

Anh-tin-bai

 Mô hình phòng xử án thân thiện với người chưa thành niên (ảnh minh họa - AI tạo)

Luật chú trọng bảo đảm quyền tham gia tố tụng và tiếp cận công lý của người chưa thành niên. Các quyền cơ bản như: được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời; được trình bày ý kiến; được trợ giúp pháp lý và phiên dịch đều được ghi nhận cụ thể. Đồng thời, Luật hướng đến xây dựng các thủ tục tư pháp thân thiện hơn như: bố trí phòng xử án phù hợp; cho phép người chưa thành niên được ngồi cạnh người bào chữa hoặc người đại diện; không bị còng tay tại phiên tòa; Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát mặc trang phục hành chính phù hợp, thay vì mặc trang phục ngành... Những chi tiết tưởng như nhỏ này lại có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm áp lực tâm lý, tạo môi trường tố tụng an toàn và tăng cường khả năng tiếp cận công lý của người chưa thành niên trên thực tế.

Từ góc độ quyền con người, Luật Tư pháp người chưa thành niên góp phần làm rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các quyền cơ bản như quyền được đối xử bình đẳng, quyền riêng tư, quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực và xâm hại, quyền được phát triển và hòa nhập xã hội. Cách tiếp cận này ngày càng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em.

Có thể khẳng định, Luật Tư pháp người chưa thành niên đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Với cách tiếp cận lấy người chưa thành niên làm trung tâm, Luật không chỉ góp phần hoàn thiện khuôn khổ tư pháp mà còn hướng tới một xã hội nhân văn, công bằng và phát triển bền vững - nơi quyền con người, nhất là quyền của người chưa thành niên, được tôn trọng và bảo đảm một cách thực chất./.

Phạm Thị Huyền



[1] Nguyễn Ngân (2025), Gia tăng trẻ vị thành niên phạm tội: Vấn nạn nhức nhối. Truy cập: https://daibieunhandan.vn/gia-tang-tre-vi-thanh-nien-pham-toi-van-nan-nhuc-nhoi-10370098.html

  • Quan niệm về sự chuẩn bị cho tuổi già của người dân đô thị hiện nay (nghiên cứu tại Hà Nội)

    Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam. 

  • Ảnh hưởng của việc cha mẹ lao động di cư nông thôn - đô thị đến chăm sóc và giáo dục con cái

    Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.

  • Hạnh phúc của người Việt Nam trưởng thành và ảnh hưởng của các yếu tố

    Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.

  • Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc, cam kết tổ chức và ý định nghỉ việc: Góc nhìn nhân sự từ ngành du lịch gold

    Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l

  • Tác động của các khu kinh tế, khu công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu xã hội tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh

    Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội. 

  • Đảm bảo an sinh xã hội đối với nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu

    Bằng phương pháp tổng quan tài liệu từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê của các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bài viết phân tích thực trạng đảm bảo an sinh xã hội (ASXH) đối với nông dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm ổn định sinh kế, đảm bảo thu nhập và bảo vệ quyền lợi cho nông dân thuộc vùng

  • Khủng hoảng trách nhiệm cá nhân trong xã hội số: Một tiếp cận từ triết học hiện sinh

    Bài viết phân tích hiện tượng khủng hoảng trách nhiệm cá nhân trong xã hội số từ góc nhìn triết học hiện sinh. Trong cách tiếp cận này, trách nhiệm không chỉ được hiểu như một chuẩn tắc đạo đức hay pháp lý, mà gắn liền với tự do và với tư cách chủ thể của hành động. Trên cơ sở phân tích các quan niệm hiện sinh về tự do, lựa chọn và trách nhiệm của chủ thể hành động, bài viết xem xét cách mà môi trường số làm biến đổi điều kiện trong đó cá nhân kinh nghiệm hành động của chính mình

  • Quan hệ Việt Nam – Brazil dưới lăng kính ngoại giao phát triển: Cơ hội kinh tế và những thách thức từ góc độ con người

    Trong bối cảnh sự trỗi dậy của “Nam toàn cầu” và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, hợp tác Nam - Nam ngày càng trở thành động lực quan trọng của phát triển bao trùm. Bài viết phân tích quan hệ Việt Nam - Brazil giai đoạn 2020 - 2024 dưới lăng kính Ngoại giao phát triển, nhằm đánh giá không chỉ khía cạnh kinh tế mà còn các tác động xã hội vi mô, đặc biệt đối với sinh kế hộ gia đình và bình đẳng giới.

  • Tác động của thiên tai đến cơ hội học tập của trẻ em dân tộc thiểu số

    Bài viết phân tích tác động đa chiều của thiên tai đối với cơ hội học tập của trẻ em dân tộc thiểu số tại xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (cũ) (nay là xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) trên cơ sở dữ liệu định tính thu thập qua 28 phỏng vấn sâu và 02 thảo luận nhóm kết hợp phân tích các nguồn dữ liệu thứ cấp. 

  • Giới thiệu bài viết "Quan niệm và thái độ của học sinh trung học phổ thông Hà Nội về xâm hại tình dục"

    Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung bài viết “Quan niệm và thái độ của học sinh trung học phổ thông Hà Nội về xâm hại tình dục” của ThS. Vũ Thị Cúc, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Những vấn đề tâm lý của thanh thiếu niên trong bối cảnh hiện nay”, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành. Hội thảo do Viện Xã hội học và Tâm lý học tổ chức tại Hà Nội ngày 24/10/2025.

Tin mới
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com