Thúc đẩy đại diện nữ trong Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Gợi mở từ phân tích kết quả bầu cử 2021–2026
Trong bối cảnh cả nước đang chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, dự kiến tổ chức ngày 15/3/2026, việc nhìn lại kết quả bầu cử nhiệm kỳ trước dưới các góc độ phân tích khoa học có ý nghĩa thiết thực, góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong chính trị, góp phần nâng cao tỷ lệ và  chất lượng đại biểu nữ trong các cơ quan dân cử.


Anh-tin-bai
 
Ảnh: Báo điện tử Chính phủ: Xây dựng chính sách, pháp luật

 

Hai bài viết phân tích kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 của TS. Trần Thị Thanh Loan (Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới),  gồm: (i) “Kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021–2026: Nhìn từ góc độ giới”; (ii) “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ trúng cử Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026” là những nghiên cứu tiêu biểu theo hướng tiếp cận này.

Các bài viết được xây dựng trên cơ sở phân tích dữ liệu của 6.201 ứng viên tại 63 tỉnh/thành phố kết hợp với 24 phỏng vấn sâu các khách thể gồm ứng cử viên trúng cử và ứng cử viên không trúng cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, cán bộ đại diện Hội đồng nhân dân, cán bộ đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ, cán bộ đại diện Mặt trận Tổ quốc và cử tri tại Hà Nội. Dữ liệu được thu thập trong khuôn khổ đề tài khoa học “Một số vấn đề giới trong hoạt động bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026” thực hiện năm 2023, do TS. Trần Thị Thanh Loan là chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới là đơn vị chủ trì.

Các bài viết đã cung cấp bức tranh toàn diện về sự tham gia của nam/nữ ứng cử viên, cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trúng cử của nam/nữ ứng cử viên trong cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021–2026. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ ứng cử viên đã đạt yêu cầu cơ cấu theo quy định, song tỷ lệ nữ trúng cử vẫn còn thấp hơn đáng kể so với các mục tiêu đề ra. Mặc dù tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021–2026 đạt mức cao nhất từ trước đến nay (29%), nhưng con số này vẫn chưa chạm tới các chỉ tiêu trong đặt ra trong Nghị quyết số 26/NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban chấp hành Trung ương và các chỉ tiêu trong Chương trình nghị sự về Phát triển bền vững đến năm 2030. Sự chênh lệch đáng kể giữa tỷ lệ trúng cử của nam/nữ ứng cử viên phản ánh những khác biệt về cơ hội và điều kiện tham gia chính trị của hai giới.

Điểm đáng chú ý là dựa trên kết quả phân tích hồi quy đa biến và các dữ liệu phỏng vấn sâu các bài viết đã chỉ ra các yếu tố tác động đến khả năng trúng cử của ứng viên nữ. Khả năng trúng cử của các ứng cử viên tỉ lệ thuận với độ tuổi, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị. Nhóm ứng cử viên có vị trí nghề nghiệp là lãnh đạo, quản lý có nhiều khả năng trúng cử hơn các nhóm ứng cử viên khác. Năng lực và sự quyết tâm của ứng cử viên là các yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trúng cử của các ứng cử viên. Bên cạnh đó, sự tồn tại của định kiến giới là yếu tố rào cản, ảnh hưởng đến sự tham gia và trúng cử của nữ giới. Những phân tích này không chỉ góp phần lý giải thực trạng mà còn gợi mở các hướng can thiệp nhằm tạo lập môi trường bầu cử công bằng và thuận lợi hơn cho phụ nữ (Kết quả phân tích chi tiết xin xem file đính kèm).

Với cách phân tích kết hợp định lượng và định tính, các bài viết đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm cho nghiên cứu về giới trong cơ quan dân cử ở Việt Nam, đồng thời cung cấp thông tin tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và các tổ chức thúc đẩy bình đẳng giới. Trong bối cảnh chuẩn bị cho kỳ bầu cử nhiệm kỳ 2026–2031, những kết quả và gợi mở từ các bài viết này có thể được xem như nguồn tham khảo có giá trị cho hoạt động tuyên truyền, đào tạo ứng viên và hoàn thiện cơ chế bảo đảm sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan dân cử.

Trần Thị Thanh Loan

File đính kèm:

 Kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 2021-2026 - nhìn từ góc độ giới.pdf

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ trúng cử HĐND cấp tỉnh 2021-2026.pdf

  • Quan niệm về sự chuẩn bị cho tuổi già của người dân đô thị hiện nay (nghiên cứu tại Hà Nội)

    Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam. 

  • Ảnh hưởng của việc cha mẹ lao động di cư nông thôn - đô thị đến chăm sóc và giáo dục con cái

    Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.

  • Hạnh phúc của người Việt Nam trưởng thành và ảnh hưởng của các yếu tố

    Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.

  • Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc, cam kết tổ chức và ý định nghỉ việc: Góc nhìn nhân sự từ ngành du lịch gold

    Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l

  • Tác động của các khu kinh tế, khu công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu xã hội tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh

    Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội. 

  • Đảm bảo an sinh xã hội đối với nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu

    Bằng phương pháp tổng quan tài liệu từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê của các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bài viết phân tích thực trạng đảm bảo an sinh xã hội (ASXH) đối với nông dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm ổn định sinh kế, đảm bảo thu nhập và bảo vệ quyền lợi cho nông dân thuộc vùng

  • Khủng hoảng trách nhiệm cá nhân trong xã hội số: Một tiếp cận từ triết học hiện sinh

    Bài viết phân tích hiện tượng khủng hoảng trách nhiệm cá nhân trong xã hội số từ góc nhìn triết học hiện sinh. Trong cách tiếp cận này, trách nhiệm không chỉ được hiểu như một chuẩn tắc đạo đức hay pháp lý, mà gắn liền với tự do và với tư cách chủ thể của hành động. Trên cơ sở phân tích các quan niệm hiện sinh về tự do, lựa chọn và trách nhiệm của chủ thể hành động, bài viết xem xét cách mà môi trường số làm biến đổi điều kiện trong đó cá nhân kinh nghiệm hành động của chính mình

  • Quan hệ Việt Nam – Brazil dưới lăng kính ngoại giao phát triển: Cơ hội kinh tế và những thách thức từ góc độ con người

    Trong bối cảnh sự trỗi dậy của “Nam toàn cầu” và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, hợp tác Nam - Nam ngày càng trở thành động lực quan trọng của phát triển bao trùm. Bài viết phân tích quan hệ Việt Nam - Brazil giai đoạn 2020 - 2024 dưới lăng kính Ngoại giao phát triển, nhằm đánh giá không chỉ khía cạnh kinh tế mà còn các tác động xã hội vi mô, đặc biệt đối với sinh kế hộ gia đình và bình đẳng giới.

  • Tác động của thiên tai đến cơ hội học tập của trẻ em dân tộc thiểu số

    Bài viết phân tích tác động đa chiều của thiên tai đối với cơ hội học tập của trẻ em dân tộc thiểu số tại xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (cũ) (nay là xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) trên cơ sở dữ liệu định tính thu thập qua 28 phỏng vấn sâu và 02 thảo luận nhóm kết hợp phân tích các nguồn dữ liệu thứ cấp. 

  • Giới thiệu bài viết "Quan niệm và thái độ của học sinh trung học phổ thông Hà Nội về xâm hại tình dục"

    Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung bài viết “Quan niệm và thái độ của học sinh trung học phổ thông Hà Nội về xâm hại tình dục” của ThS. Vũ Thị Cúc, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Những vấn đề tâm lý của thanh thiếu niên trong bối cảnh hiện nay”, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành. Hội thảo do Viện Xã hội học và Tâm lý học tổ chức tại Hà Nội ngày 24/10/2025.

Tin mới
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com