Hội thảo: “Công bằng sức khỏe: Những vấn đề của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam”
Sáng ngày mùng 7 tháng 04 năm 2016, tại khách sạn Daewoo đã diễn ra hội thảo “Công bằng sức khỏe: những vấn đề của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam” do Liên minh hành động vì công bằng Sức khỏe (PAHE) tổ chức. Đây là hội thảo thường niên của PAHE, các tổ chức tham gia Liên minh gồm: Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS), Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Y tế Công cộng (CCRD), Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) và Trung tâm Nghiên cứu Sức khỏe cộng đồng (CPHS) thuộc trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội.
Tham dự buổi hội thảo có các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đến từ Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Trường Cán bộ Dân tộc, Ủy ban dân tộc, Trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, các tổ chức phi chính phủ Care, Oxfarm, …và các cơ quan, tổ chức khác quan tâm tới vấn đề nghiên cứu. Viện Nghiên cứu Con người có 04 cán bộ tham dự.
Bắt đầu chương trình hội thảo, ông Trịnh Tiến Đức, chủ tịch PAHE đã giới thiệu về điều lệ và các hoạt động mà PAHE đã thực hiện trong thời gian qua. Trong đó Ông nhấn mạnh hướng quan tâm của liên minh về vấn đề công bằng sức khỏe, đặc biệt là đối với nhóm người dân tộc thiểu số. Công bằng sức khỏe là tình trạng không còn sự khác biệt (chỉ bao gồm những khác biệt có thể phòng tránh được hoặc chịu sự tác động của các chính sách) về sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe giữa các nhóm khác nhau trong xã hội (Braveman). Năm thành tố của công bằng sức khỏe, gồm: (i) Công bằng trong phân bổ nguồn lực và tài chính cho y tế, (ii) công bằng trong khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, (iii) công bằng trong chất lượng dịch vụ và chăm sóc y tế, (iv) công bằng trong các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sức khỏe, và (v) công bằng về tình trạng sức khỏe.
Theo đó, PAHE nỗ lực vì một xã hội mà mọi người đều có quyền và được hưởng công bằng sức khỏe, hướng đến trở thành một liên minh vững mạnh và bền vững của các tổ chức dân sự và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công bằng sức khỏe đồng thời thúc đẩy công bằng sức khỏe cho tất cả mọi người. Báo cáo “Công bằng sức khỏe: những vấn đề của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam” là ấn phẩm thứ ba của nhóm PAHE kể từ năm 2011. Báo cáo 1: Công bằng sức khỏe ở Việt Nam – góc nhìn của xã hội dân sự” giới thiệu các khái niệm cơ bản và tổng quan về công bằng sức khỏe ở Việt Nam. Báo cáo 2: Hệ thống y tế Việt Nam: hướng tới mục tiêu và công bằng” cập nhật đánh giá về công bằng sức khỏe ở Việt Nam.
Tiếp theo đó, Bà Nguyễn Thị Mai Hương, Giáo đốc CCRD giới thiệu về báo cáo “Công bằng sức khỏe: những vấn đề của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam”. Báo cáo lần này tập trung phân tích có hệ thống các vấn đề về công bằng sức khỏe và các yếu tố liên quan của nhóm dân tộc thiểu số giai đoạn 2006- 2011. Phương pháp tổng quan tài liệu và phân tích mô tả so sánh từ nguồn dữ liệu sẵn có là phương pháp chính được sử dụng trong báo cáo nhằm chỉ ra sự khác biệt tương đối về thống kê giữa nhóm dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số về các yếu tố của hệ thống y tế (chính sách y tế, tài chính y tế, nguồn lực và mạng lưới cơ sở y tế, tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe)…ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe của người dân. Các số liệu điều tra quốc gia được sử dụng trong báo cáo gồm: MICS 2011, VHLSS 2010, VNAS 2012, Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, và SAVY 2010.
Báo cáo đã chỉ ra rằng, có sự bất công bằng trong tình trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ sức khỏe của người dân tộc thiểu số (DTTS). Tỷ lệ tử vong mẹ, tỉ lệ tử vong trẻ em, tuổi thọ của người DTTS đều thấp hơn đáng kể so với người Kinh. Việc sử dụng dịch vụ y tế của người DTTS ở mức tương tự như người Kinh ngoại trừ việc đi khám thai. Số lượt đi khám thai của người DTTS thấp hơn rất nhiều so với người Kinh và chất lượng của khám thai cũng thấp hơn. Về việc đến các cơ sở y tế thì kết quả phân tích chỉ ra rằng, người DTTS chủ yếu sử dụng dịch vụ ở tuyến cơ sở (trạm y tế) trong khi người Kinh lại sử dụng nhiều hơn các dịch vụ y tế ở tuyến cao như tuyến tỉnh, tuyến trung ương nơi mà việc khám, chữa bệnh thường có chất lượng hơn và có trang thiết bị hỗ trợ cho chẩn đoán, điều trị tốt hơn. Người DTTS có bảo hiểm y tế và sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh với tỷ lệ cao hơn người Kinh nhưng số tiền mà bảo hiểm thực tế phải chi trả lại thấp hơn do chủ yếu họ dùng dịch vụ ở tuyến cơ sở nơi mà chi phí y tế thấp hơn. Mặc dù được chi trả bảo hiểm, người DTTS khó tiếp cận với các dịch vụ tuyến trên vì các chi phí ngoài y tế cho đi lại, ăn, ở là rất cao.
Tiếp theo đó, Bà Bế Thị Hồng Vân - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Ủy ban dân tộc đã giới thiệu về Chính sách phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hiện nay, có 27 chính sách hỗ trợ sản xuất đối với bà con đồng bào DTTS, 09 chính sách bảo vệ và phát triển rừng, 11 chính sách tín dụng, và các chính sách về triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Trong lĩnh vực giảm nghèo, đào tạo nghề và giải quyết việc làm thì có chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, 9 chính sách liên quan. Trong lĩnh vực nước sạch, bảo vệ môi trường sinh thái cũng có chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch vệ sinh môi trường, 7 chương trình chính sách. Bên cạnh đó, có 20 chính sách về giáo dục đào tạo và có 12 chính sách trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe.
Ủy ban dân tộc hiện nay trực tiếp quản lý thực hiện các chương trình, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số gồm: (1) chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu và các thôn bản đặc biệt khó khăn; (2) Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; (3) chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ DTTS đặc biệt khó khăn; (4) Chính sách hỗ trợ định canh định cư cho đồng bào DTTS còn di cư tự do; (5) chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn; (6) Đề án “phát triển kinh tế xã hội vùng các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao”; (8) chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào DTTS; (9) chính sách giảm thiểu tình trạng hôn nhân cận huyết thống vùng đồng bào DTTS…Có thể nói, những chính sách này đang ngày càng góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng sống của đồng bào DTTS.
Ngoài ra, hoạt động hợp tác giữa tổ chức Oxfam và PAHE về tăng cường tiếp cận nguồn lực, đảm bảo công bằng sức khỏe và kết quả nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tại bệnh viện cũng được chia sẻ tại hội thảo.
Sau khi nghe các bài trình bày, hội thảo đã nhận được rất nhiều ý kiến chia sẻ cũng như thảo luận liên quan đến các vấn đề vừa nêu. Các ý kiến nhìn chung cho thấy nghiên cứu là cần thiết và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định.
Nguyễn Thị Huệ