Kết quả thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam từ 2001-2015
Ngày 16/9/2015, Việt Nam đã công bố báo cáo quốc gia: “Kết quả 15 năm thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam” nhằm tổng kết tiến trình và kết quả thực hiện Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam trong suốt chặng đường 2001 – 2015. Trong chặng đường 15 năm tiến tới Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, sau bản báo cáo năm 2012 do UNDP tại Việt Nam thực hiện, Việt Nam đã chủ trì xuất bản Báo cáo quốc gia vào các năm 2005, 2008, 2010 và 2013. Báo cáo này tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện MDGs thông qua cái nhìn sâu sắc và toàn diện đối với thành tựu và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong chặng đường qua, đồng thời đưa ra những viễn cảnh phát triển quốc gia sau 2015.
Tháng 9 năm 2000 đánh dấu thời khắc lịch sử tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ khi 189 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc ký Tuyên bố Thiên niên kỷ thể hiện cam kết về một sự hợp tác toàn cầu mới về xóa nghèo đói, phát triển và bảo vệ môi trường. Một năm sau, Liên hợp quốc đề ra kế hoạch thực hiện 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ với hạn thực hiện là đến năm 2015. Tám Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ bao gồm: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói; Phổ cập giáo dục Tiểu học; Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; Giảm tử vong trẻ em; Tăng cường sức khỏe bà mẹ; Phòng chống HIV/AIDS, Sốt rét và các dịch bệnh nguy hiểm khác; Đảm bảo bền vững môi trường; Thiết lập mối quan hệ toàn cầu vì phát triển. Tám mục tiêu này tạo thành một khung quốc tế giúp đo lường và giám sát tiến trình phát triển của các quốc gia thành viên cho đến năm 2015. Những mục tiêu như giảm một nửa tỷ lệ nghèo cùng cực, ngăn chặn tình trạng lây lan HIV/AIDS và cung cấp giáo dục Tiểu học phổ cập vào 2015 đã thúc đẩy những nỗ lực mạnh mẽ trong việc đáp ứng nhu cầu của những nhóm nghèo nhất thế giới và thúc đẩy phát triển toàn diện và bền vững. Trong suốt 15 năm qua, Việt Nam luôn coi các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ là một trong những ưu tiên quan trọng của quốc gia và đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, dù gặp nhiều khó khăn và thách thức. Việt Nam đã thể hiện được khả năng và sự linh hoạt của mình trong việc vượt qua những khó khăn và bối cảnh bất lợi của kinh tế toàn cầu, giữ vững những tiến bộ khả quan trong phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và bảo vệ môi trường. Việt Nam đã chuyển mình từ một trong những đất nước nghèo nhất thế giới trở thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình vào năm 2010. 15 năm qua (2001 – 2015), tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta luôn duy trì ở mức khá cao, mức sống của người dân được cải thiện mặc dù có những nốt trầm do suy giảm kinh tế và lạm phát. Cùng với phát triển kinh tế, Việt Nam đã đặc biệt chú ý và phân bổ nguồn lực cho giảm nghèo và phát triển xã hội. Những nỗ lực tích cực và cam kết mạnh mẽ này đã đem lại những kết quả đáng chú ý. Trong vòng 1 thập niên, tỷ lệ nghèo tính trên chi tiêu đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004, giúp đưa 20 triệu người thoát nghèo. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015, tỷ lệ nghèo cũng giảm xuống đáng kể tử 14,2% năm 2010 còn 9,8% năm 2013.
Báo cáo bao gồm 4 chương chính. Chương 1 phân tích chi tiết bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam theo 3 giai đoạn: 2001-2005, 2006-2010, và 2011-2015. Chương 2 phân tích các kết quả quốc gia trong việc thực hiện 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Phần này rà soát những thành công cũng như chỉ ra những thách thức đối với việc hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Chương 3 nêu bật những bài học chủ chốt từ kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam trong quá trình phát triển và chặng đường thực hiện Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ từ những năm đầu 2000 đến 2015. Các bài học kinh nghiệm chính bao gồm giảm nghèo, huy động nguồn lực quốc tế, phân cấp và tăng cường quyền tự chủ, nâng cao năng lực và hội nhập quốc tế. Chương 4 nêu bật các thách thức mà Việt Nam sẽ đối mặt trong giai đoạn sau 2015 đồng thời nhấn mạnh những cơ hội tiềm năng mà quốc gia cần nắm bắt nhằm vươn lên tầm cao mới. Báo cáo này sử dụng số liệu và thông tin thu thập từ các cơ quan chính phủ và cơ quan LHQ nhằm đem đến những thông tin có giá trị và đáng tin cậy về tiến trình thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam.
Kết quả thực hiện MDSs của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2015
Việt Nam đã hoàn thành một số Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ như : (i) Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói, (ii)phổ cập giáo dục tiểu học, (iii) tăng cường bình đẳng giới cũng như đạt nhiểu tiến bộ trong các chỉ số về y tế như giảm tỷ số tử vong bà mẹ, tỷ suất tử vong trẻ em. Quốc gia cũng đạt mục tiêu kiểm soát bệnh sốt rét và bệnh lao, và giảm tỷ lệ mắc mới HIV/AIDS. Việt Nam đang đạt mục tiêu về phổ cập tiếp cận với các dịch vụ sức khỏe sinh sản và cải thiện sức khỏe bà mẹ. Các nguyên tắc môi trường bền vững đã được lồng ghép vào các chính sách phát triển của quốc gia, tỷ lệ che phủ rừng đã tăng lên để đảm bảo tính bền vững của môi trường. Bên cạnh đó, Việt Nam cần nỗ lực nhiều hơn nữa để hoàn thiện các mục tiêu khác như giảm tỷ suất tử vong trẻ em và các chỉ số trong mục tiêu 7 về đảm bảo bền vững môi trường. Dù Việt Nam đã đạt được các tiến bộ đáng kể về thiết lập mối quan hệ toàn cầu vì phát triển, vẫn cần tiếp tục phấn đấu để hoàn thiện các mục tiêu cụ thể như đảm bảo nợ bền vững, cải thiện tiếp cận với các loại thuốc thiết yếu giá rẻ, cũng như tiếp tục phát triển hệ thống tài chính và thương mại bình đẳng.
Mục tiêu 1: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói
Việt Nam là một trong các quốc gia thành công về giảm nghèo và đã đạt Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về giảm nghèo trước thời hạn. Quá trình giảm nghèo ấn tượng trên là kết quả của tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, tự do hóa thương mại và các chính sách giảm nghèo nhắm trực tiếp vào các nhóm yếu thế. Trong thời gian từ 1993-2008, tỷ lệ nghèo tính theo chi tiêu giảm từ 58,1% xuống còn 14,5%, đưa hàng triệu người ra khỏi tình trạng đói nghèo. Trong giai đoạn tiếp theo, tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia 2011-2015 đã giảm từ 14,2% năm 2010 xuống còn 9,8% năm 2013. Mức sống chung của người dân được nâng cao, các hộ gia đình đã sở hữu nhiều tài sản lâu bền hơn. Tỷ lệ thiếu đói đã giảm mạnh trong vòng 15 năm qua và tình trạng thiếu đói kinh niên đã được xóa bỏ ở hầu hết các tỉnh thành, tuy nhiên thiếu đói giáp hạt hoặc do thiên tai vẫn tồn tại ở một số nơi thuộc vùng miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. Đến năm 2008, Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu “giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi”.Dù đã đạt được thành tựu ấn tượng về giảm nghèo, Việt Nam vẫn phải đối mặt với một số thách thức. Tỷ lệ nghèo còn chênh lệch giữa các nhóm dân tộc và vùng địa lý. Tình trạng nghèo đói và mức sống thấp còn phổ biến ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là các khu vực cách xa so với cả nước về giảm nghèo. Tình trạng tái nghèo vẫn còn tồn tại. Tính chất đa chiều của nghèo ngày càng thể hiện rõ do sức ép của đô thị hóa và di cư, trong đó thiếu thu nhập chỉ là một yếu tố bên cạnh các thiếu hụt khác về tiếp cận dịch vụ xã hội và điều kiện sống cơ bản
Mục tiêu 2: Phổ cập Giáo dục tiểu học
Việt Nam đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục tiểu học (theo chuẩn quốc gia) và đang tiến dần tới việc phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở. Đến năm 2014, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc tiểu học đạt mức xấp xỉ 99,0%, cao nhất từ trước đến nay; tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc phổ thông cơ sở đạt 87,2% vào năm 2012. Trong suốt những thập kỷ vừa qua, chính phủ đã chứng tỏ cam kết và đạt được thành công trong việc kiến thiết lại hệ thống giáo dục quốc gia, giúp tăng cường chất lượng dạy và học cũng như cải thiện cơ sở vật chất nhà trường và môi trường học tập. Việt Nam cần tiếp tục nâng cấp chất lượng giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Tốc độ cải cách trong lĩnh vực giáo dục chưa thực sự bắt kịp được với nhịp độ thay đổi nhanh chóng của điều kiện kinh tế và xã hội. Bất bình đẳng về tiếp tận giáo dục và chất lượng giáo dục còn tồn tại giữa các nhóm dân tộc và các khu vực địa lý. Giáo dục bậc cao, bao gồm đào tạo nghề và kỹ thuật chưa phản ánh sát nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước. Do đó, cải cách giáo dục để tăng cường chất lượng dạy và học là một nhu cầu cấp thiết.
Mục tiêu 3: Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ
Việt Nam đã có được thành công ấn tượng với việc đạt được tất cả các chỉ tiêu của Mục tiêu này. Đến năm 2014, không còn có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ biết đọc biết viết và tỷ lệ nhập học ở tất cả các cấp học giữa nam và nữ. Phụ nữ cũng chứng tỏ vai trò ngày càng tăng trong giáo dục. Tỷ lệ giảng viên nam và giảng viên nữ tại các trường đại học và cao đẳng hiện nay tương đương nhau, trong khi vào đầu những năm 2000 giảng viên nam vẫn còn chiếm đại đa số. Về việc làm, sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động phi nông nghiệp đã tăng mạnh, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Tỷ số chênh lệch về tiền lương giữa lao động nam và nữ trong khu vực phi nông nghiệp đã giảm xuống còn 106,7% vào năm 2014. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều thách thức. Phụ nữ vẫn phải chịu nhiều rào cản trong công việc hơn các đồng nghiệp nam. Với cùng trình độ học vấn, mức lương cho lao động nữ vẫn thấp hơn lao động nam do phụ nữ thường phải đảm nhận những công việc có vị thế thấp hơn nam giới. Còn nhiều phụ nữ phải làm các công việc không chính thức và dễ bị tổn thương. Đại diện của phụ nữ trong các vị trí quản lý và lãnh đạo chưa thể đến gần các mục tiêu trong Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới 2011-2020. Tình trạng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại, nhất là ở những nơi có trình độ dân trí thấp và bạo lực trên cơ sở giới đang trở thành một vấn đề ngày càng phức tạp
Mục tiêu 4: Giảm tử vong trẻ em
Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc theo dõi tỷ suất tử vong trẻ em. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm một nửa giữa 2 năm 1990 và 2014 trong khi tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh giảm nhanh hơn 2,5 lần trong cùng giai đoạn. Các kết quả tích cực của chương trình tiêm chủng mở rộng và các chính sách bảo vệ sức khỏe phụ nữ đã đóng góp đáng kể vào tiến bộ này. Việt Nam có khả năng cao sẽ đạt được chỉ số tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, tiến độ cải thiện các chỉ số này đã chậm lại trong thời gian gần đây và chỉ tiêu về tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi vẫn ở mức tiệm cận mục tiêu.
Mục tiêu 5: Tăng cường sức khỏe bà mẹ
Việt Nam đã giảm tỷ số tử vong bà mẹ xuống gần với mục tiêu vào năm 2015, đây là một bước tiến bộ đáng kể. Sức khỏe sinh sản của bà mẹ đã được quan tâm đặc biệt, tỷ lệ tránh thai đạt 75,7% trên toàn quốc, tỷ lệ sinh vị thành niên giảm xuống còn 45 ca trên 1.000 phụ nữ vào năm 2014. Đa số phụ nữ trong thời kỳ thai sản được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc tiền sản, 95,8% được thăm khám ít nhất 1 lần và 73,7% được thăm khám ít nhất 4 lần (số liệu năm 2014). Tuy nhiên, các khó khăn vẫn còn tồn tại ở một số vùng nơi người dân tộc thiểu số sinh sống và các điều kiện kinh tế - xã hội còn kém phát triển như Vùng trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, kiến thức về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục trong thanh thiếu niên còn hạn chế. Do vậy, cần thực hiện các chính sách và hành động cương quyết hơn để giải quyết các thách thức đối với các nhóm này nhằm hướng tới mục tiêu chung.
Mục tiêu 6: Phòng chống HIV/AIDS, Sốt rét và các dịch bệnh nguy hiểm khác
Việt Nam đã đạt các kết quả đáng khích lệ trong việc ngăn chặn HIV/AIDS: Việt Nam đã giảm tỷ lệ mắc HIV xuống dưới 0,3% dân số. Số lượng và chất lượng các dịch vụ điều trị, chăm sóc và hỗ trợ về HIV/AIDS đã được cải thiện, đặc biệt là độ bao phủ của liệu pháp ARV đã lên tới 67,6% số người cần được điều trị vào năm 2013, tăng gần gấp 34 lần so với năm 2005. Việt Nam đã đạt được mục tiêu kiểm soát sốt rét từ năm 2011 với tỷ lệ ca tử vong liên quan đến sốt rét chỉ ở mức 0,01 trên 100.000 người trong năm 2012. Việt Nam cũng đã vượt mục tiêu toàn cầu về kiểm soát bệnh lao khi giảm thành công 62% số lượng các ca mắc mới và tử vong so với mức năm 1990. Để duy trì các thành tựu này và tiếp tục hướng tới việc hoàn thành các Mục tiêu Phát triển bền vững trong những năm tới, Việt Nam cần phải vượt qua nhiều thách thức, đặc biệt là những thách thức về nguồn lực tài chính.
Mục tiêu 7: Đảm bảo bền vững môi trường
Nhận thức được vai trò của môi trường là một trong các yếu tố chính của phát triển bền vững, Việt Nam đã không ngừng đưa các nguyên tắc bền vững vào các chính sách và chương trình quốc gia, cũng như tôn trọng các cam kết quốc tế. Các kết quả về tăng cường tiếp cận nước sạch, điều kiện vệ sinh cơ bản và nơi ở an toàn là đáng khích lệ, tập trung ở phần đông dân số và các nhóm yếu thế. Việt Nam cũng đã có các nỗ lực ấn tượng để hoàn thành trách nhiệm trong việc kiểm soát lượng phát thải khí nhà kính (GHG) và và các chất gây hại tầng Ô-zôn (ODS), và tăng các bể các-bon tự nhiên qua các chương trình trồng rừng. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn phải đối mặt với áp lực của một quốc gia đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và dân số đông, ví dụ như áp lực về suy giảm sự đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường và các vi phạm môi trường cũng như áp lực về tăng trưởng kinh tế mà chưa thể đảm bảo đầy đủ được tính bền vững.
Mục tiêu 8: Thiết lập mối quan hệ toàn cầu vì phát triển
Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng trong việc xây dựng mối quan hệ toàn cầu vì phát triển. Những năm qua đã chứng kiến quá trình tự do hóa thương mại sâu rộng, nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết gần đây, phản ánh rõ mức độ hội nhập kinh tế sâu sắc hơn. Quá trình tự do hóa thương mại đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, mặc dù vẫn còn tồn tại một vài vấn đề như tăng thâm hụt thương mại, các hàng rào phi thuế quan tạo ra bởi thị trường quốc tế, trong khi còn thiếu các rào cản tương ứng trên thị trường trong nước nhằm hỗ trợ các ngành công nghiệp non trẻ của Việt Nam. Giá trị gia tăng thấp của các sản phẩm và dịch vụ xuất khẩu cùng với sự phụ thuộc cao vào một số thị trường trở thành thách thức lớn. Bên cạnh đó, nguồn vốn ODA là một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng cho việc phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA thời kỳ hậu MDG, Chính phủ đã cố gắng cải thiện hiệu quả quản lý đầu tư công và sẵn sàng giải quyết những rủi ro liên quan đến vốn vay, đặc biệt là khả năng trả nợ. Nợ công tăng nhanh từ năm 2000 và duy trì ở mức 55% trong năm 2014, trong mức an toàn.
Thu Hà (siu tầm và giới thiệu)
Tham khảo toàn văn báo cáo tại:
http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/library/mdg/country-report-mdg-2015/