Đọc lại những bức thư Bác Hồ gửi các tầng lớp nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trên cương vị là Chủ tịch nước đã dành nhiều thời gian đi cơ sở, về với Nhân dân. Điều đặc biệt là Người đã viết rất nhiều thư gửi các tầng lớp nhân dân. Với tri thức uyên bác, với tư tưởng cách mạng và khoa học, bằng phong cách ngôn ngữ giản dị, gần gũi, Người đã tạo nên những dòng thư của lòng nhân ái, thấu hiểu, động viên và định hướng hành động cho mọi tầng lớp nhân dân trên mọi bước đường, mọi thời đại.

 

 

Đại biểu thiếu nhi Thủ đô đến chúc Tết Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch ngày 1/1/1959. Ảnh: qdnd.vn

Chúng tôi đã khảo sát trong bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập) với 7713 trang viết và 2561 văn bản, thấy rằng Người sử dụng trên 23 thể loại để thể hiện. Thư là thể loại chiếm số lượng lớn. Người đã viết 625 bức thư, trong đó có đến trên 400 bức thư gửi các tầng lớp nhân dân.

Những bức thư gửi đồng bào cả nước nói chung và đồng bào, chiến sĩ miền Nam, các địa phương; gửi học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, nhi đồng, phụ nữ, phụ lão, gửi đến công nhân, nông dân, doanh nhân, nhà giáo, thầy thuốc, các nhân sĩ, trí thức; thư gửi các lực lượng vũ trang (bộ đội, công an, dân quân, du kích) và là những lá thư gửi đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào và chức sắc tôn giáo. Những lá thư được Bác viết trong các dịp như: Tết Nguyên đán, tết Trung thu, nhân các ngày lễ lớn của dân tộc, của các ngành, các cấp... Hoặc là những dịp diễn ra đại hội, hội nghị, khai giảng năm học mới, khai trương, các cuộc triển lãm nghệ thuật; nhân dịp các cá nhân, tập thể lập thành tích trong chiến đấu, lao động, học tập, có nhiều sáng kiến trong nghiên cứu khoa học, sản xuất, đời sống; khi các tầng lớp nhân dân gặp khó khăn, do chiến tranh, thiên tai địch họa và các dịp đặc biệt khác...

Thư của Người thường lấy danh nghĩa cá nhân, cương vị là Chủ tịch nước hoặc chức danh đại diện Đảng, chính quyền: “Tôi nhân danh Chính phủ” hoặc “Tôi thay mặt cho Đảng và Chính phủ”... Có khi người xưng là Bác Hồ rất đỗi gần gũi, thân mật. "Đây là Hồ Chí Minh nói chuyện với các em", “Đây tôi lấy danh nghĩa là người già mà nói chuyện với các cụ phụ lão”. Với Nhân dân: “Đồng bào yêu mến tôi, nghe lời tôi” - gần gũi, thân thương... Đó là những dòng thư mà Người luôn dành tình cảm, trách nhiệm của mình đến với mỗi một người dân.

Lo toan trước hết cho những con người đang chiến đấu gian khổ nhất; chia sẻ đau buồn với những người mất mát; tìm cách an ủi, đền đáp cho những người chịu nhiều thiệt thòi; bao dung, độ lượng đối với người lầm lỗi mà thật sự hối cải... Chính sự biểu lộ tình cảm chân thành đó đã có tác động mạnh mẽ, cảm hóa được nhân sĩ, trí thức, thuyết phục được người do dự phân vân, nâng niu từng nhân cách... làm cho muôn lòng, muôn người quyết theo Đảng, theo Bác.

Trong thư, Người có cách sử dụng từ ngữ linh hoạt, đi vào lòng người đọc một cách tự nhiên. Trong đó đã phát huy tối đa “hành vi tại lời”. Để biểu dương, cổ vũ động viên Nhân dân, Người có rất nhiều cách thể hiện: “Tôi tin rằng”, “Tôi tin tưởng...”, “Tôi có quyền tin...”, “Tôi hoan nghênh...”, “Tôi vui lòng khen ngợi...”, “Tôi thân ái khen ngợi”....  Cùng một sắc thái biểu cảm nhưng cách thể hiện của Người không hề lặp lại: “Tôi xin cám ơn”, “Tôi trân trọng cám ơn”, “Tôi kính cẩn cúi chào”, “Tôi gửi lời chào thân ái”... tùy theo từng đối tượng gửi thư.

Đáng chú ý, Người sử dụng khá nhiều và linh hoạt các thành ngữ, châm ngôn dân gian. Thông thường, Người dùng thành ngữ điểm xuyết vào câu văn. Nhưng có nhiều trường hợp, Người vận dụng khá sáng tạo, thay đổi khá bất ngờ. Như liên kết hai hay nhiều thành ngữ trong một câu: “Chớ tự kiêu, tự mãn, chủ quan khinh địch”; “Ăn gió nằm sương, xung phong hãm trận”, “Máu trôi lửa cháy, mưa đạn rừng bom”. Đảo vị trí của các thành tố trong thành ngữ để chuyển tải một thông điệp cụ thể: “nhất trí đồng tâm”, “lạc lối, lầm đường”; “ích quốc, lợi dân”, “mỹ tục, thuần phong”; “khó không nản, thắng không kiêu” ... tạo ra thành ngữ mới theo cách Hồ Chí Minh mà không làm suy suyển ý nghĩa gốc của thành ngữ dân gian, đem vào thành ngữ những nét nghĩa mới. Với việc "ứng vạn biến" đối với phương tiện ngôn ngữ đã giúp Người chuyển tải tới Nhân dân ta cái "bất biến": Đó là lý tưởng mà toàn Đảng, toàn dân ta đang phấn đấu cho hòa bình, thống nhất và giàu mạnh của đất nước, là chân lý  "Không có gì quý hơn độc lập tự do". 

Thư Hồ Chí Minh gửi các tầng lớp nhân dân mang đặc trưng ngôn ngữ giản dị, trong sáng. Nhờ vậy, Hồ Chí Minh đã đơn giản hóa những điều khó hiểu, làm cho tư tưởng, quan điểm lớn của Người dễ dàng đến với mọi tầng lớp nhân dân, dù đó là những vấn đề của cuộc sống lao động, học tập hàng ngày hay những vấn đề lớn của dân tộc, thời đại.

Sự vận dụng, lựa chọn ngôn ngữ trong thư Hồ Chí Minh gửi các tầng lớp nhân dân, một lần nữa đã chứng minh được hiệu quả của việc lựa chọn thể loại văn bản, cân nhắc trong dùng từ và phối hợp các phong cách ngôn ngữ trong một thể loại văn bản. Ngôn ngữ trong thư Hồ Chí Minh nói riêng và phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh nói chung vì vậy là bài học quý cho mỗi chúng ta dù ở cương vị nào phải biết “viết cho ai, viết cái gì và viết như thế nào” trong thực hiện nhiệm vụ của mình.

Nguồn bài viết: Trang tin Hồ Chí Minh (Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam)
  • Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước

         Sáng 24/8, tại Hà Nội, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

  • Nâng cao hiệu quả tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho thanh thiếu niên thông qua ứng dụng công nghệ số trên mạng xã hội

    Bài viết tập trung phân tích vai trò của công nghệ số và mạng xã hội trong công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; những cơ hội và thách thức do công nghệ số và mạng xã hội đặt ra đối với công tác tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với thanh thiếu niên. Bên cạnh đó, bài viết cũng đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế, khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ số để tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với thanh thiếu niên trên các nền tảng mạng xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với thanh thiếu niên trên môi trường mạng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

  • Báo điện tử với công tác thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

    Bình đẳng giới (BĐG) là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Việt Nam, được luật hóa đồng bộ từ các cam kết quốc tế đến hệ thống pháp lý trong nước. Trong kỷ nguyên số, báo điện tử vận hành như một thiết chế xã hội thiết yếu nắm giữ vai trò vừa kiến tạo diễn ngôn tiến bộ để xóa bỏ định kiến giới vừa chủ động phản ứng nhanh để phản bác các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Báo điện tử với đặc trưng truyền thông tin nhanh, lượng độc giả lớn nên những thông tin tích cực, cổ vũ cho bình đẳng giới, bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng sẽ lan tỏa rộng rãi đến cộng đồng. Để tối ưu hóa hiệu quả truyền thông của báo điện tử, cần nâng cao hàm lượng khoa học, nhạy cảm giới của các tin, bài, đồng thời công tác tuyên truyền và đấu tranh tư tưởng trên báo điện tử cần được gắn kết chặt chẽ. 

  • Lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam

    Năm 2026 đánh dấu tròn 10 năm Việt Nam triển khai “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người” (30/7/2016-30/7/2026). Những nỗ lực cho thấy một chuyển biến quan trọng: phòng, chống mua bán người đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị, được triển khai đồng bộ từ hoàn thiện pháp luật, phòng ngừa, điều tra, xét xử đến giải cứu, hỗ trợ nạn nhân và đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

  • Lan tỏa tình yêu đất nước và cảm xúc tự hào

    Tối 23/8, tại Khu đô thị Vạn Phúc City, Báo Nhân Dân và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim”, chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2026) và Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026).

  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay

    Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm công bằng xã hội là nguyên tắc nhất quán, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng luôn khẳng định tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, quan điểm này tiếp tục được Đảng kế thừa, phát triển với nội hàm sâu sắc hơn, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Bài viết tập trung phân tích hai nội dung chính: Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay và Nhận diện một số âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp đổi mới của Việt Nam; từ đó, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

  • Phải đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc và Nhân dân lên trên hết, trước hết

    Sáng 17/8, tại Hà Nội, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Lễ khai mạc Chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự khai mạc Chương trình và trực tiếp giảng 01 chuyên đề tại lớp học.

  • Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tham dự Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

    Sáng ngày 13/8/2026, tại trụ sở số 1 Liễu Giai, Ngọc Hà, Hà Nội, Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Đảng ủy Viện Hàn lâm) đã tham dự Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV) do Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương tổ chức. Đồng chí GS.TS. Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm đã có tham luận ý kiến tại Hội nghị.

  • Vận dụng đúng phương pháp cách mạng trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong giai đoạn hiện nay

    Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước.

  • Mượn danh bảo vệ nhân quyền để vu khống, chống phá Việt Nam

    Lợi dụng Đối thoại thường niên về giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU), cùng việc Nghị viện châu Âu thông qua văn kiện về chống đàn áp xuyên quốc gia, một số tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí đẩy mạnh chiến dịch xuyên tạc tình hình Việt Nam, kêu gọi gây sức ép chính trị, ngoại giao, kinh tế nhằm làm tổn hại quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế.

Tin mới
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com