Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người và việc vận dụng, phát triển sáng tạo vào thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam thời kỳ mới
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người là một di sản vô cùng quý báu của dân tộc ta, là kim chỉ nam cho Đảng và Nhà nước ta trên con đường xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và thách thức như hiện nay, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người và vận dụng trong hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
 
Tổng Bí thư Tô Lâm thăm hỏi, trò chuyện với bà con Nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cũ), nay là xã Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang, ngày 5-2-2025_Ảnh: baotuyenquang.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người

Thứ nhất, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết của giải phóng con người.

Độc lập dân tộc, từ tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, là điều vô cùng quý giá, là tiền đề tiên quyết để giải phóng con người, bảo đảm quyền con người. Quyền con người, một mặt, được tiếp cận như là “yêu sách” của nhân dân với chế độ thực dân, phong kiến, đó là trách nhiệm của chính phủ bảo hộ lúc bấy giờ; mặt khác, quyền con người được tiếp cận như là mục tiêu cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc khơi dậy ý thức đấu tranh, tập hợp lực lượng trong nước và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Trong Tuyên ngôn độc lập (năm 1945), Người dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, khẳng định quyền của nước Việt Nam được hưởng tự do, độc lập và quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Vì thế, khát khao “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” mà Người khái quát đã lay động mọi người Việt Nam yêu nước, thức tỉnh cả dân tộc và tạo nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vang dội. Tư tưởng này còn được Người nhiều lần khẳng định ở những thời khắc cam go nhất của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(1).

Thứ hai, giải phóng con người phải được bảo đảm trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật.

Tư tưởng về giải phóng con người đã nảy sinh từ rất sớm ở Chủ tịch Hồ Chí Minh khi mới chỉ là một thanh niên, Người đã thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Véc-xây (Pháp) năm 1919 để đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Bản yêu sách đưa ra những yêu cầu cụ thể về quyền cho dân tộc Việt Nam. Một trong những nội dung đấu tranh đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc chống thực dân Pháp là đòi hỏi cải cách nền pháp lý, mà muốn cải cách thì phải xây dựng Hiến pháp, pháp luật làm nền tảng. Sự phát triển của tư tưởng lập hiến dần dần đi vào hiện thực bằng việc xây dựng một bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ ba, xây dựng nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người.

Nhà nước kiểu mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phải là một nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, đề cao chế độ dân chủ với tư tưởng “trọng dân”. Người còn đặc biệt quan tâm đến nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà nước trong quan hệ đối với người dân: “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc... Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân”(2); “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân”(3).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ dân chủ, đã đặt nền tảng cho một xã hội mà quyền lực thực sự thuộc về người dân, trong đó “đôn đốc và phê bình Chính phủ” không chỉ là một quyền chính trị đặc biệt của nhân dân, mà còn thể hiện cao nhất quyền làm chủ của người dân. Điều này đồng nghĩa với việc nhân dân có quyền tham gia vào việc xây dựng, giám sát và đánh giá hoạt động của chính quyền. Luận điểm này cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng một chính quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đang được xây dựng ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng  phát  triển sáng tạo  tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam thời kỳ đổi mới

Thứ nhất, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết của quyền con người.

Thực hiện lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới.

Để khẳng định quan điểm mang ý nghĩa cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như phù hợp với tình hình thực tiễn, Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 12-7-1992, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” nhận thức rõ “Giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới có điều kiện được bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”(4). Đặc biệt, Đại hội XI của Đảng (năm 2011) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”(5). Đến Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta khẳng định đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và bảo đảm quyền con người, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc ở vị trí “tối cao” trong các mục tiêu của Đảng. Bởi lẽ, một quốc gia thực sự mạnh mẽ không chỉ dựa trên kinh tế phát triển, mà còn phải bảo đảm cho mọi công dân được sống trong hòa bình, an toàn và có cơ hội phát triển bản thân.

Đánh giá kết quả sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đại hội XIII (năm 2021) tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức về quyền con người trong thời kỳ mới của đất nước. Đại hội xác định “Phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội;... và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đấy là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(6). Rõ ràng, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền độc lập, tự do của dân tộc với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn là nền tảng, là kim chỉ nam góp phần định hướng cho sự nghiệp bảo đảm quyền con người ngày càng vững chắc hơn. Do đó, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là điều kiện cực kỳ quan trọng, tạo môi trường thuận lợi để xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt nhất quyền con người trên thực tế.

Thứ hai, quyền con người phải được bảo đảm trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn Việt Nam, bảo đảm bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người được thực hiện. Ngay từ năm 1986, Đại hội VI của Đảng đã nhấn mạnh, phải sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế. Đại hội VI của Đảng đã có những bước đi quan trọng trong việc đổi mới tư duy, tập trung vào việc xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, rõ ràng, tạo cơ sở vững chắc để bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Trên cơ sở đó, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 đã định hướng rõ: “dân chủ hóa đời sống xã hội, quyền công dân, quyền con người và tự do cá nhân được bảo đảm bằng pháp luật, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và chỉ bị ràng buộc bởi pháp luật”(7).

Tiếp nối định hướng của Đại hội VIII, Đại hội IX và Đại hội X, Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20-7-2010, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về “Công tác nhân quyền trong tình hình mới”, định hướng việc xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Đại hội XII của Đảng, cùng với việc đưa nội dung quyền con người vào tất cả văn kiện Đại hội, tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ: “hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”(8). Từ đó, Nghị quyết Đại hội XIII cũng xác định “tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”, đây là định hướng quan trọng thúc đẩy hoàn thiện pháp luật về quyền con người và tổ chức thực thi trong thực tiễn: “bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”(9).

Căn cứ vào thực tiễn quá trình xây dựng đất nước, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản định hình chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Dưới góc độ hiến định, thuật ngữ “Quyền con người” lần đầu tiên được đề cập tới trong Điều 50, Hiến pháp năm 1992. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 khẳng định việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.. Hiến pháp năm 2013 đã nêu bật quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong một chương riêng. Để bảo đảm nguyên tắc pháp quyền và tính tối thượng của Hiến pháp năm 2013, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp, trong đó xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là rà soát lại toàn bộ văn bản pháp luật, ưu tiên sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật về quyền con người, quyền công dân. Việc lấy con người làm trung tâm đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm dân chủ, tự do, nhờ vậy chính sách của Đảng và Nhà nước luôn hướng tới mục tiêu bảo đảm và nâng cao quyền con người, tạo điều kiện để mỗi cá nhân được phát triển toàn diện.

Tuy nhiên, trong công tác xây dựng pháp luật, quy định về bảo đảm, bảo vệ quyền con người cần tiếp tục được hoàn thiện. Một số lĩnh vực cần tiếp tục được nghiên cứu để ban hành văn bản có giá trị pháp lý điều chỉnh. Các quy định về quyền của đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp (như quyền của phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của bạo lực...) chưa đầy đủ. Quy định về việc hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng cần tiếp tục được nghiên cứu để cụ thể hóa, ví dụ trường hợp khẩn cấp như đại dịch COVID-19. Tính khả thi của một số văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người chưa cao; một số vi phạm pháp luật về quyền con người chưa có biện pháp, cơ chế đủ mạnh để xử lý.

Thứ ba, về xây dựng Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người.

Riêng trong thời kỳ tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản định hình chủ trương về bảo đảm quyền con người. Văn kiện Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định”(10). Với tinh thần trên, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội xác định “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người”(11). Năm 1992, Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 12-7-1992, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” đặt ra yêu cầu: “Kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật trong sạch, vững mạnh, bảo vệ có hiệu quả các quyền công dân, quyền con người. Cần nghiêm khắc kiểm điểm, uốn nắn, khắc phục những khuyết điểm vi phạm quyền dân chủ của công dân”(12).

Đại hội X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam”(13).

Văn kiện Đại hội XI của Đảng chủ trương: “tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(14). Nội dung này tiếp tục được hoàn thiện ở Đại hội XII, đến Đại hội XIII, theo đó việc kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được ghi nhận. Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã ra đời. Lần đầu tiên, chúng ta đánh giá toàn diện và xác định nội dung trọng tâm, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, với định hướng cụ thể như đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, xây dựng nền hành chính kiến tạo, liêm chính, hành động; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân...

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới _Ảnh: nhiepanhdoisong.vn

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh và bám sát đường lối của Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động chủ yếu sau:

Một là, cụ thể hóa quy định trong Hiến pháp, luật vào văn bản dưới luật nhằm bảo đảm các quyền con người. Đây là hoạt động có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng của cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương nhằm thực thi biện pháp hành chính, quy tắc, thủ tục, dịch vụ công,... gắn với việc bảo đảm quyền con người.

Hai là, xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình, chính sách phát triển gắn với bảo đảm quyền con người, như Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình xây dựng nông thôn mới... Chương trình, chính sách trên đã hỗ trợ tích cực cho người dân phát huy quyền làm chủ trong quản lý nhà nước, xã hội; tiếp cận thuận lợi hơn với dịch vụ trợ giúp pháp lý; an sinh xã hội... góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội; ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, ý thức về dân chủ trong xã hội được nâng lên; ngân sách nhà nước dành cho chương trình quốc gia nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gia tăng hằng năm; Việt Nam đã hoàn thành hầu hết mục tiêu Thiên niên kỷ.

Ba là, trực tiếp áp dụng biện pháp phù hợp với bối cảnh cụ thể của từng ngành, từng địa phương nhằm nâng cao năng lực thụ hưởng quyền của người dân, đặc biệt là của nhóm dễ bị tổn thương. Hoạt động này được thực hiện thông qua sáng kiến từ cơ sở, như tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quyền con người cho cán bộ, công chức, viên chức, các tầng lớp nhân dân; triển khai giải pháp về phát triển khoa học - kỹ thuật, nguồn vốn phát triển kinh tế - xã hội; hỗ trợ trực tiếp cho nhóm dễ bị tổn thương trước hiểm họa, như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh,...

Bốn là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng và thực thi pháp luật ... để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Năm là, xây dựng cơ quan chuyên trách về nhân quyền, như Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, Ban Chỉ đạo Nhân quyền, Bộ Dân tộc và Tôn giáo (của Chính phủ); Hội đồng Dân tộc, Ủy ban Dân nguyện và Giám sát (của Quốc hội);... Các cơ quan này từng bước tạo nền móng để thực thi và bảo vệ quyền con người trên các lĩnh vực: ban hành pháp luật; thực thi Hiến pháp, pháp luật; hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; xem xét về tính tương thích của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con người.../.

TS Nguyễn Thị Thi Huyền - Lại Sơn Tùng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Học viện Chính trị khu vực I

-----------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 534
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64 - 65
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 90
(4) Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 12-7-1992, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, về “Vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta”, Hà Nội, 1992
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 76
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 33
(7) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 160
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 169
(9) Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khoá XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, Hà Nội, 2022
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 112
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 19
(12) Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 12-7-1992, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về “Vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta”, Hà Nội, 1992
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2006, tr. 72
(14) Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Hà Nội, 2011

Nguồn bài viết: Tạp chí Cộng sản
Tin mới
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com