TĂNG TRƯỞNG HDI VIỆT NAM VÀ CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN
Từ năm 1990 đến nay, chỉ số HDI Việt Nam tăng đều qua các năm nhưng tốc độ tăng cũng như sự đóng góp của từng chỉ số thành phần (chỉ số kinh tế, chỉ số giáo dục và chỉ số tuổi thọ) vào HDI lại không giống nhau. Sự khác biệt này thể hiện qua từng giai đoạn: 1990 – 1999, 2000 – 2009, 2010 - 2015.
1. Giai đoạn 1990 – 1999
Trong giai đoạn 10 năm từ năm 1990 – 1999, Báo cáo PTCN của UNDP công bố chỉ số HDI của mỗi quốc gia nhưng không công bố đầy đủ từng chỉ số thành phần. Vì vậy, ở giai đoạn này tác giả không có đủ dữ liệu để tính toán sự tăng trưởng cũng như đóng góp của các chỉ số thành phần vào HDI. Tuy nhiên, dựa trên những phân tích thống kê của một số Báo cáo PTCN Việt Nam cho thấy chỉ số giáo dục của Việt Nam biến thiên với dao động nhỏ (thấp nhất là năm 1993 ở mức 0,78 và cao nhất ở mức 0,84 ở năm 1999). Nguyên nhân là do Việt Nam rất chú trọng đến phát triển giáo dục. Chỉ số giáo dục là chỉ số đóng góp tỷ trọng lớn nhất và có ý nghĩa nhất vào thành tựu phát triển con người Việt Nam trong thời gian này. Độc giả quan tâm có thể xem thêm một số báo cáo phát triển con người của Việt Nam để thấy rõ hơn tốc độ tăng trưởng HDI và đóng góp của các thành phần trụ cột vào HDI giai đoạn 1990 - 1999, đặc biệt là Báo cáo Phát triển Con người Việt Nam 2001 “Đổi Mới và Sự nghiệp phát triển con người Việt Nam” do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với UNDP soạn thảo.
2. Giai đoạn 2000 - 2009
Kể từ báo cáo năm 2000, UNDP công bố từng chỉ số thành phần trong chỉ số HDI.
Chỉ số HDI và các chỉ số thành phần trong giai đoạn 2000 - 2009
|
Năm
|
Tuổi thọ
|
GDP
(tính theo PPP)
|
Giáo dục
|
HDI
|
|
Năm
|
Chỉ số
|
GDP/
người
|
Chỉ số
|
TL 15 tuổi trở lên biết chữ (%)
|
Tỷ lệ đi học (%)
|
Chỉ số
|
Chỉ số
|
Xếp hạng
|
|
2000
|
67,8
|
0,71
|
1.689
|
0,47
|
92,9
|
63
|
0,83
|
0,671
|
108/174
|
|
2001
|
67,8
|
0,71
|
1.860
|
0,49
|
93,1
|
67
|
0,84
|
0,682
|
101/162
|
|
2002
|
68,2
|
0,72
|
1996
|
0,50
|
93,4
|
67
|
0,84
|
0,688
|
109/173
|
|
2003
|
68,6
|
0,73
|
2070
|
0,51
|
92,7
|
64
|
0,83
|
0,688
|
109/175
|
|
2004
|
69
|
0,73
|
2.300
|
0,52
|
90,3
|
64
|
0,82
|
0,691
|
112/177
|
|
2005
|
70,5
|
0,76
|
2.490
|
0,54
|
90,3
|
64
|
0,82
|
0,704
|
108/177
|
|
2006
|
70,8
|
0,76
|
2.745
|
0,55
|
90,3
|
63
|
0,81
|
0,709
|
108/177
|
|
2007 – 2008
|
73,7
|
0,81
|
3.071
|
0,57
|
92,4
|
82,4
|
0,81
|
0,733
|
105/177
|
|
2009
|
74,3
|
0,82
|
2.600
|
0,54
|
90,3
|
62,3
|
0,81
|
0,725
|
116/182
|
Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người của UNDP từ năm 2000 – 2009
Từ bảng số liệu trên chúng ta thấy rằng trong giai đoạn 2000 – 2009, chỉ số tuổi thọ của Việt Nam có bước tiến đều qua từng năm, có sự tăng khá mạnh vào năm 2005 và 2007. Trong vòng 10 năm, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam tăng 6,5 năm (từ 67,8 tuổi năm 2000 lên 74,3 tuổi năm 2009). Đây là một mức tăng khá cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, chỉ số giáo dục có sự giảm sút do tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đi học đều giảm. Việt Nam chú trọng phát triển giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, các cấp học cao hơn chưa được quan tâm đúng mức. Mặt khác, chỉ số thu nhập có tăng nhưng còn chậm. Vì vậy, xét về tổng thể chỉ số HDI có tăng nhưng không đáng kể. Trong giai đoạn này, nhiều chỉ số cấu thành HDI giảm sút so với giai đoạn trước. Thứ hạng HDI vì thế cũng thay đổi, có sự sụt giảm trong bảng xếp hạng toàn cầu. Thực tế cho thấy thành tích phát triển con người của Việt Nam có được cải thiện song tốc độ không bằng nhiều quốc gia khác. Lý do là động lực phát triển của Việt Nam bị suy giảm, Việt Nam chưa tận dụng được các cơ hội hội nhập, và Việt Nam cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu.
3. Giai đoạn 2010 - 2015
Kể từ năm 2010, UNDP có sự điều chỉnh trong cách tính toán chỉ số HDI. Vì vậy, trong các Báo cáo PTCN cũng có sự thay đổi về việc công bố các chỉ số thành phần của HDI, cụ thể là UNDP không công bố các chỉ số thành phần mà chỉ công bố tuổi thọ trung bình, số năm đi học trung bình, số năm đi học kỳ vọng và GNI của mỗi quốc gia. Nếu muốn có từng chỉ số cấu thành của HDI, chúng ta phải tự tính toán.
Các giá trị biên để tính HDI mới
|
Chiều
|
Chỉ tiêu
|
Giá trị tối đa
|
Giá trị tối thiểu
|
|
Sức khỏe
|
Tuổi thọ (năm)
|
85
|
20
|
|
Giáo dục
|
Số năm đi học trung bình (năm)
|
15
|
0
|
|
Số năm đi học kỳ vọng (năm)
|
18
|
0
|
|
Mức sống
|
GNI bình quân đầu người (USD PPP)
|
75.000
|
100
|
Áp dụng cách tính này cùng với số liệu của UNDP công bố trong các Báo cáo PTCN, tác giả đã tính toán được các chỉ số như sau:
Chỉ số HDI và các chỉ số thành phần trong giai đoạn 2010 - 2015
|
|
Chỉ số tuổi thọ
|
Chỉ số giáo dục
|
Chỉ số thu nhập
|
HDI
|
|
2010
|
0,84
|
0,48
|
0,38
|
0,572
|
|
2011
|
0,85
|
0,48
|
0,38
|
0,593
|
|
2013
|
0,85
|
0,51
|
0,38
|
0,617
|
|
2014
|
0,86
|
0,51
|
0,59
|
0,638
|
|
2015
|
0,86
|
0,58
|
0,67
|
0,666
|
Bảng số liệu trên cho thấy trong giai đoạn 5 năm (2010 – 2015), chỉ số tuổi thọ của Việt Nam vẫn tăng dần đều một cách khá bền vững; chỉ số giáo dục cũng từng bước được cải thiện, đặc biệt có sự tăng mạnh vào năm 2015 (do số năm đi học trung bình tăng lên 7,5 năm so với 5,5 năm vào năm 2014); chỉ số thu nhập có sự cải thiện rõ rệt trong hai năm 2014 và 2015 so với những năm trước đó. GNI đầu người của Việt Nam tăng từ 2.900 USD lên 4.892 USD (năm 2014) và 5.092 USD (năm 2015). Vì vậy, trong hai năm 2014 và 2015, sự tăng trưởng của chỉ số HDI có sự đóng góp đáng kể từ chỉ số thu nhập và chỉ số giáo dục.
Nhìn chung, cả ba giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2015 cho thấy chỉ số HDI Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng nhưng tốc độ không cao, sự biến đổi của các chỉ số thành phần trong chỉ số HDI là không đồng đều, có sự thay đổi trật tự đóng góp vào HDI trong từng giai đoạn, thể hiện sự tiến bộ không đều giữa các lĩnh vực kinh tế, giáo dục và y tế.
Nguyễn Vũ Quỳnh Anh