Hội thảo: Định hướng mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đến năm 2050: Các giải pháp và lộ trình thực hiện
Trong khuôn khổ hoạt động soạn thảo Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015, ngày 2/7/2015, tại hội trường 3C, tòa nhà 1B, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức buổi Tọa đàm khoa học với chủ đề: “Định hướng mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đến năm 2050: các giải pháp và lộ trình thực hiện” do TS. Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội- Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (ILSSA) trình bày. Đến tham dự hội thảo có các nhà khoa học đến từ Viện nghiên cứu Con người, Trung tâm Phân tích dự báo, Viện Kinh tế Việt Nam và Viện Phát triển bền vững Vùng.
Tại hội thảo, diễn giả đã nêu ra các vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam: thực trạng, giải pháp, định hướng của Việt Nam trong tương lai gần và bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về bảo hiểm xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, Bảo hiểm xã hội thực hiện theo nguyên tắc tọa thu tọa chi, và phương pháp chia sẻ giữa các thế hệ, với hai loại hình bảo hiểm xã hội là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện. Về đối tượng tham gia thì mục tiêu đến năm 2020 sẽ đạt được độ bao phủ là 50% lực lượng lao động sẽ tham gia bảo hiểm xã hội.
Từ những vấn đề chung về bảo hiểm xã hội của Việt Nam hiện hành, diễn giả cũng đưa ra nhận định về những điểm mới trong Luật bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2014, có hiệu lực từ 1/1/2016, trong đó nhấn mạnh đến việc sửa đổi những quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện như: bỏ tuổi trần quy định; cho phép mua bù; cho phép đóng linh hoạt 1 lần hoặc nhiều lần. Tuy nhiên, dù đã sửa đổi nhưng luật bảo hiểm xã hội tự nguyện vẫn còn hạn chế là tỷ lệ hưởng bảo hiểm ngắn hạn ở khu vực phi chính thức vẫn còn rất thấp.
Tiến sĩ cho rằng dự báo về khả năng đạt được mục tiêu mà Chính phủ đặt ra năm 2020 là khó đạt được. Về khả năng vỡ quỹ bảo hiểm xã hội mà hiện nay đang là vấn đề quan ngại đối với nhiều người thì diễn giả cho rằng nếu không có sự điều chỉnh về các quy tắc thu chi của bảo hiểm xã hội thì dự báo quỹ sẽ bắt đầu âm vào khoảng năm 2018, đến năm 2047 thì sẽ cạn kiệt.
Cuối cùng, diễn giả đi sâu vào phân tích trường hợp điển hình về việc xây dựng bảo hiểm xã hội đạt kết quả tốt của nước láng giềng với Việt Nam là Trung Quốc. Tại Trung Quốc, chính sách bảo hiểm xã hội được xây dựng với hai chương trình là chương trình cho thành thị và chương trình cho nông thôn, với mục tiêu là tăng diện bao phủ rộng dù mức hỗ trợ thấp, mức tối thiểu đa tầng và bền vững về nhiều chiều với nguyên tắc bao cấp 2 đầu, nguyên lý thực hiện là 3 trong 1 cho tối thiểu, tự nguyện và mở rộng. Chương trình bảo hiểm xã hội của Trung Quốc cũng tập trung hướng đến khuyến khích người dân nông thôn, đặc biệt là người nghèo tham gia. Đồng thời, nhằm xóa bỏ khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, bảo hiểm xã hội Trung Quốc luôn áp dụng theo nguyên tắc lấy chính sách hưởng bảo hiểm xã hội của thành thị áp dụng cho nông thôn. Kết quả đạt được của chương trình bảo hiểm xã hội ở Trung Quốc thực sự ngoài mong đợi, từ năm 2009 đến năm 2011, đã có 100% các huyện của Trung Quốc tham gia chương trình hưu trí, độ bảo phủ là 60% dân số tham gia bảo hiểm, năm 2012, ở nông thôn có 120 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, thành thị là 284 triệu người và có đến 60% người cao tuổi được hưởng hưu trí.
Qua kinh nghiệm thực tiễn ở Trung Quốc, diễn giả cũng đưa ra một số bài học kinh nghiệm và hàm ý đối với Việt Nam: chế độ khuyến khích là chủ chốt; cần có mạng lưới dịch vụ tốt với quy trình nghiêm ngặt; cần nhìn nhận cụ thể hơn về thách thức đối với việc duy trì đóng góp; cần có sự cam kết chính trị ở cấp cao và tài chính rõ ràng.
Cuối buổi hội thảo là phiên trao đổi sôi nổi giữa diễn giả và các nhà khoa học tham dự xoay quanh các chính sách sửa đổi của Luật bảo hiểm xã hội với những điểm mới được nhiều nhà khoa học cho là đã làm giảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm; những thảo luận về việc học hỏi kinh nghiệm về nguyên tắc thu chi bảo hiểm xã hội ở Trung Quốc áp dụng tại Việt Nam.
Phạm Thu Hương