27/10/2015
Một số phát hiện chính được nêu trong Báo cáo “Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam 2010”
Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam nhằm thu thập thông tin chỉ tiết về tỷ lệ bị bạo lực, tần suất, những yếu tố nguy cơ và hậu quả của bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Đây là nghiên cứu đầu tiên trên phạm vi toàn quốc cũng như 6 vùng kinh tế xã hội. Nghiên cứu này là một hoạt động của “Chương trình chung về Bình đẳng giới giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc”. Tổng cục Thống kê là đơn vị quản lý và thực hiện nghiên cứu với sự hỗ trợ và điều phối chung của WHO. Nghiên cứu được thực hiện bằng định lượng với việc phỏng vấn 4838 phụ nữ đại điện cho phụ nữ từ 18-60 tuổi trên cả nước trong thời gian từ tháng 12/2009 đến đầu tháng 2/2010 và nghiên cứu định tính được thực hiện vào tháng 4/2010 tại ba tỉnh Hà Nội, Huế, Bến Tre với 30 cuộc phỏng vấn sâu và 4 thảo luận nhóm.
Các phát hiện chính
-
Bạo lực đối với phụ nữ do chồng gây ra
|
Loại hình bạo lực
|
Trong cuộc đời
(%)
|
12 tháng
trước điều tra (%)
|
|
Bạo lực thể xác
|
32
|
6
|
|
Bạo lực tình dục
|
10
|
4
|
|
Bạo lực tinh thần
|
54
|
25
|
-
Kết hợp hai loại bạo lực thể xác và bạo lực tình dục, 34% phụ nữ từng kết hôn cho biết họ đã bị bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục do chồng gây ra ít nhất một lần trong đời, trong khi đó 9% cho biết bị bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục trong vòng 12 tháng trước điều tra;
-
Kết hợp ba loại: bạo lực thể xác, bạo lực tình dục và bạo lực tinh thần: 58% phụ nữ từng kết hôn cho biết họ đã tằng bị ít nhất 1 trong 3 loại bạo lực trong cuộc đời và 27% cho biết họ từng bị cả ba loại bạo lực trên trong vòng 12 tháng trước điều tra;
-
Việc phụ nữ bị đồng thời cả bạo lực thể xác và tình dục và phổ biến;
-
Các hành vi bạo lực thường không phải là mới bị mà là những hành vi lặp đi lặp lại. Bạo lực tình dục và thể xác đối với phụ nữ thường bắt đầu sớm trong một mối quan hệ của người phụ nữ. Bạo lực tình dục và bạo lực tinh thần có xu hướng tiếp diễn trong nhiều năm trong suốt mối quan hệ hơn là bạo lực thể xác;
-
Phụ nữ (trong nghiên cứu này) thường cho rằng bạo lực tinh thần có ảnh hưởng đến họ nhiều hơn so với bạo lực thể xác hay tình dục;
-
Phụ nữ (trong nghiên cứu này) thường không nhận biết được điều đang xảy ra với họ về khía cạnh “bạo lực”;
Ngoài các phát hiện chính, khảo sát cũng thu thập thông tin cho thấy 9% phụ nữ bị bạo lực kinh tế; trong số những người bị chồng gây bạo lực thể xác, có 87,4% cho biết là họ chưa bao giờ phản ứng lại; Có sự khác biệt về tỉ lệ bạo lực giữa khu vực thành thị và nông thôn; lứa tuổi và trình độ học vấn;
2. Bạo lực đối với phụ nữ do các đối tượng khác gây (không phải chồng)
-
Khoảng 10% phụ nữ cho biết họ đã từng bị một người khác không phải là chông gây bạo lực kể từ khi học 15 tuổi, cho dù có khác biệt về vùng khá rõ nét, dao động từ 3% đến 12%. Người gây bạo lực chủ yếu là các thành viên nam trong gia đình;
-
Chỉ có 2,3% tổng số phụ nữ cho biết bị bạo lực tình dục kể từ khi 15 tuổi. Người gây bạo lực chủ yếu là người lạ, bạn trai và rất hiểm gặp trường hợp người nhà;
-
2.8% tổng số phụ nữ cho biết bị lạm dụng tình dục trước khi 15 tuổi. Người lạm dụng tình dục chủ yếu là người lạ.
-
35% tổng số phụ nữ đã từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục trong đời. Tỷ lệ bạo lực do bạn tình gây ra cao gấp 3 lần so với bạo lực do các đối tượng khác không phải là bạn tình gây ra.
3. Thái độ và nhận thức về những yếu tố đằng sau bạo lực do chồng gây ra
-
Phụ nữ ở nông thôn thường có xu hướng ủng hộ nhiều hơn so với phụ nữ thành phố đối với nhận định cho rằng nam giới và người đưa ra quyết định trong gia đình, phụ nữ phải theo chồng và rằng họ không được từ chối quan hệ tình dục;
-
Những hiểu lầm về lý do dẫn tới bạo lực còn rất phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, khiến cho người bị bạo lực tìm cách giải thích cho những hành vi bạo lực;.
-
Nhận thức sai lệch về giới trong quan niệm về bạo lực góp phần đáng kể vào mức độ chấp nhận bạo lực của nam giới và phụ nữ (do rượu; bản chất nam giới là hay ghen tuông và muốn kiểm soát vợ; nam giới ở vị thế cao hơn; vấn đề sinh học của nam giới ví dụ như “có máu nóng”, “gen gây bạo lực”...);
-
Quan niệm mang tính văn hóa truyền thống về nam tính và nữ tính có ảnh hưởng đáng kể đến các cách xử lý nóng giận, từ đó tăng nguy cơ dẫn tới bạo lực (Quan niệm nam giới và nữ giới có cách xử trí cơn nóng giận khác nhau, nam giới khó kiểm soát hơn; quan niệm phụ nữ cần phải đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng; quan niệm bản chất của phụ nữ Việt Nam là chịu đựng);
Ngoài ra nghiên cứu định tính còn phát hiện ra rằng những người được phỏng vấn nhìn nhận bạo lực tình dục từ khía cạnh đạo đức chứ không xuất phát từ quyền của phụ nữ.
4. Tác động của bạo lực do chồng gây ra đối với sức khỏe và thể chất của phụ nữ và trẻ em
-
26% phụ nữ từng bị chồng gây bạo lực tình dục hoặc bạo lực thể xác cho biết họ đã từng bị thương tích do hành vi bạo lực đó gây ra. Trong đó 60% cho biết rằng họ bị thương tích nhiều hơn một lần và 17% bị thương tích nhiều lần;
-
Phụ nữ từng bị gây bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục đánh giá tình trạng sức khỏe của mình “kém” hoặc “rất kém” nhiều hơn so với những phụ nữ không bị bạo lực. Họ cũng có xu hướng gặp phải những khó khăn trong đi lại và trong thực hiện những hoạt động thường ngày, bị đau và mất trí nhớ, căng thẳng tình thần và có suy nghĩ muốn tự tử, sảy thai, nạo thai và thai chết lưu;
-
Phụ nữ có con từ 6-11 tuổi đã từng bị bạo lực do chồng gây ra cho biết con cái họ cũng có những vấn đề về hành vi (ví dụ như ác mông, đái dầm, hành vi hung hăng và kết quả học tập kém) so với những con cùng độ tuổi của những phụ nữ không bị bạo lực.
5. Bạo lực đối với trẻ em, những khía cạnh bạo lực giữa các thế hệ
-
Cứ 4 phụ nữ có con dưới 15 tuổi thì 1 người cho biết rằng con họ đã từng bị bạo lực thể xác do chồng của họ gây ra. Bạo lực đối với trẻ em có mối liên hệ chặt chẽ với bạo lực đối với phụ nữ do cùng một người (chồng) gây ra;
-
Hơn một nửa trong số phụ nữ bị bạo lực thể xác do chồng gây ra cũng cho biết rằng con cái họ đã từng chứng kiến ít nhất một lần cách họ bị bạo lực;
-
Phụ nữ bị bạo lực do chồng gây ra có xu hướng có mẹ đẻ cũng từng bị đánh đập cao hơn so với những phụ nữ khác. Những người chồng gây bạo lực cho những phụ nữ được phỏng vấn có xu hướng co mẹ đã từng bị bạo lực trong quá khứ hoặc bản thân họ (những người chồng) cũng đã từng bị bạo lực khi còn nhỏ. Trải nghiệm thơ ấu của người chồng là một yếu tố về nguy cơ quan trọng dẫn tới việc anh ta trở thành người gây bạo lực trong đời sống sau này.
6. Chiến lược ứng phó và xử trí của phụ nữ khi bị bạo lực
-
Một nửa số phụ nữ từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục do chồng gây ra chưa từng bao giờ nói với bất kỳ ai về vấn đề mà mình phải chịu đựng cho tới khi tham gia phỏng vấn trong Khảo sát. Trường hợp họ nói điều này với ai đó thì thường là thành viên trong gia đình.
-
87% phụ nữ bị bạo lực chưa bao giờ tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ chính thống hoặc những người có thẩm quyền. Nếu có tìm kiếm sự hỗ trợ thì cũng thường là khi bạo lực đã nghiêm trọng và những trường hợp này phụ nữ thường tìm đến trưởng thôn/ấp/bản;
-
Khoảng 1/5 số phụ nữ bị bạo lực đã từng rời khỏi nhà ít nhất là một đêm. Gia đình thường là lý do khiến phụ nữ quay về;
-
Trong khảo sát, khoảng 60% phụ nữ từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục do chồng gây ra nói rằng họ có nghe về Luật Phòng, Chống Bạo lực gia đình. Tuy nhiên những cuộc phỏng vấn định tính cho thấy phụ nữ thường không nắm được các nội dung chi tiết của Luật và ngay cả các cán bộ địa phương cũng không có đủ kiến thức về Luật cũng như về bạo lực gia đình nói chung.
Báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị theo bốn mảng chiến lược chính là: Tăng tường hành động và cam kết quốc gia; Đẩy mạnh phòng ngừa ban đầu; Thiết lập những đáp ứng phù hợp (dịch vụ, chương trình v.v...) và Hỗ trợ nghiên cứu, thu thập số liệu và hợp tác.
Thu Hà (giới thiệu)