Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2026): Nhân dân là gốc rễ của mọi thắng lợi!
Trong dòng chảy lịch sử cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về “trọng dân”, “lấy dân làm gốc”, coi nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp cách mạng luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Đó không chỉ là kết tinh của truyền thống nhân văn sâu sắc của dân tộc, sự tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn là thực tiễn hoạt động cách mạng của Người gắn bó với nhân dân, chiến đấu vì nhân dân, phụng sự nhân dân.

bac-ho.jpg

Bác Hồ trò chuyện với xã viên Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (năm 1954) ( Ảnh: Tư liệu)

Picture 7

Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi lãnh đạo cách mạng giành độc lập dân tộc, xây dựng nhà nước mới và trong cả Di chúc thiêng liêng để lại trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định một chân lý giản dị nhưng sâu sắc: mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, mọi mục tiêu của cách mạng đều vì hạnh phúc của nhân dân và sức mạnh lớn nhất của dân tộc chính là sức mạnh của lòng dân.

Người từng nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

Ngày nay, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế số, xã hội số và hội nhập quốc tế sâu rộng, tư tưởng ấy càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc.

Quan điểm “nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển”, “lấy sự hài lòng của nhân dân là thước đo cao nhất của mọi quyết sách” tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong các văn kiện của Đảng và trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Đó vừa là sự kế thừa nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa là yêu cầu tất yếu của công cuộc phát triển đất nước trong thời đại mới.

nd-1.jpg

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tặng bức ảnh “Bác Hồ với thiếu nhi” cho các đội viên tiêu biểu toàn quốc trong lễ Kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (15-5-1941 - 15-5-2026) tại Phủ Chủ tịch, ngày 14-5-2026 ( Ảnh: TTXVN)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân - nền tảng tư tưởng của một nhà nước liêm chính, vì dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân không phải là một khái niệm trừu tượng mà là chủ thể sống động của lịch sử, là lực lượng sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần của xã hội.

Người nhìn nhận nhân dân với nội hàm rất rộng: là toàn thể đồng bào Việt Nam yêu nước, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp hay địa vị xã hội. Nhưng trên hết, nhân dân là những con người lao động chân chính, là nền tảng của quốc gia và là cội nguồn của mọi sức mạnh cách mạng.

Điều đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người nói về nhân dân bằng cả tình cảm, trách nhiệm và sự thấu hiểu sâu sắc đối với số phận con người. Chính những năm tháng bôn ba qua nhiều châu lục đã giúp Người chứng kiến tận cùng nỗi đau của những dân tộc bị áp bức, của người lao động bị bóc lột.

Từ đó, Người xác định mục tiêu cao nhất của cách mạng không chỉ là giành độc lập dân tộc, mà còn là mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Đây chính là triết lý cốt lõi của Nhà nước cách mạng Việt Nam - Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “dân là chủ” nghĩa là nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước; còn “dân làm chủ” nghĩa là nhân dân trực tiếp tham gia quản lý xã hội, giám sát bộ máy nhà nước và quyết định vận mệnh của đất nước.

Trong quan niệm ấy, cán bộ không phải “quan cách mạng” mà là “công bộc”, là “đày tớ trung thành của nhân dân”. Vì vậy, mọi biểu hiện quan liêu, xa dân, cửa quyền, hách dịch đều đi ngược lại bản chất của chính quyền cách mạng.

Tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện sâu sắc ở niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân. Người cho rằng, dân là gốc của nước; có dân thì việc khó mấy cũng thành công, mất lòng dân thì mọi thành quả đều có thể mất đi.

Chính niềm tin ấy đã tạo nên đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh vô địch làm nên những chiến thắng hào hùng của cách mạng Việt Nam.

Trong thời kỳ kháng chiến, nhân dân là hậu phương lớn, là lực lượng trực tiếp làm nên chiến thắng. Trong hòa bình, nhân dân tiếp tục là chủ thể của công cuộc kiến thiết đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng, mọi chủ trương, chính sách nếu không xuất phát từ lợi ích của nhân dân, không được nhân dân đồng tình và tham gia thực hiện thì khó có thể thành công bền vững.

Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là sự thống nhất giữa mục tiêu phục vụ nhân dân với phong cách gần dân, trọng dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh không đứng trên nhân dân để giáo huấn mà hòa mình vào nhân dân bằng lối sống giản dị, khiêm nhường và chân thành.

Từ bộ quần áo ka-ki bạc màu, đôi dép cao su đến những lần xuống đồng cấy lúa, thăm công trường, hỏi han cụ già, em nhỏ…, tất cả đều phản ánh một phong cách lãnh đạo gần dân hiếm có.

Người đặc biệt coi trọng dân chủ và quyền được nói của nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu người dân không được nói thật, không dám phản ánh tâm tư, nguyện vọng thì khoảng cách giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân sẽ ngày càng xa.

Vì vậy, Người yêu cầu cán bộ phải biết lắng nghe dân, học dân, hỏi dân và chịu sự giám sát của dân. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ là phương châm hành động, mà còn là nguyên tắc vận hành của một nền dân chủ thực chất.

Tư tưởng ấy cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong điều kiện đất nước phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nếu xa rời nhân dân, xem nhẹ lợi ích của nhân dân hoặc để phát sinh khoảng cách giữa chính quyền với người dân thì sẽ làm suy giảm niềm tin xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Picture 8

Lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo phát triển trong kỷ nguyên mới

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, phát triển hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân và hội nhập quốc tế. Đằng sau những thành tựu ấy chính là sự kiên định quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm của quá trình phát triển.

Từ Đại hội XIV của Đảng đến các chỉ đạo gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tư tưởng “dân là gốc” tiếp tục được nhấn mạnh như một nguyên tắc xuyên suốt. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể tham gia hoạch định, giám sát và thực thi chính sách. Đây chính là bước phát triển mới trong nhận thức về vai trò của nhân dân trong thời kỳ hiện đại.

Đặc biệt, quan điểm “lấy sự hài lòng của nhân dân là thước đo cao nhất của mọi quyết sách” mang ý nghĩa rất sâu sắc. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi chính sách, mọi chương trình phát triển không thể chỉ đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng hay những con số thống kê đơn thuần, mà phải được đo bằng chất lượng cuộc sống của người dân, bằng mức độ người dân được bảo vệ, được tham gia, được thụ hưởng và được phát triển toàn diện.

Trong những năm qua, việc xây dựng nền hành chính phục vụ đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Bộ máy hành chính từng bước được tinh gọn; chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số được đẩy mạnh; cơ chế công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình được tăng cường. Những thay đổi ấy nhằm hướng đến mục tiêu phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy vẫn còn không ít hạn chế: tình trạng quan liêu, né tránh trách nhiệm, đùn đẩy công việc; một bộ phận cán bộ thiếu tinh thần phục vụ; việc phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chồng chéo; vẫn còn những chính sách chưa sát thực tiễn đời sống nhân dân. Đây chính là những “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ nếu muốn xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực và gần dân.

nd-3.jpg

Cán bộ, chiến sĩ Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng cùng người dân xây dựng nông thôn mới ( Ảnh : qdnd.vn)

Để tư tưởng Hồ Chí Minh về “trọng dân”, “lấy dân làm gốc” thực sự đi vào đời sống, vấn đề không chỉ nằm ở nhận thức mà quan trọng hơn là chuyển hóa thành cơ chế vận hành cụ thể của toàn bộ hệ thống chính trị.

Trong giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu quản trị quốc gia ngày càng hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn, việc đặt nhân dân vào vị trí trung tâm phải trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong xây dựng thể chế, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện.

Trước hết , tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong toàn bộ hệ thống chính trị theo hướng chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: cán bộ là “đày tớ của nhân dân”, chính quyền là “công bộc của dân”. Điều đó có nghĩa, mọi quyền lực nhà nước đều phải được thực thi vì lợi ích của nhân dân và chịu sự kiểm soát của nhân dân.

Trong thực tiễn hiện nay, một trong những hạn chế lớn là có lúc, có nơi việc xây dựng chính sách còn nặng về tư duy hành chính, chưa thật sự xuất phát từ hơi thở cuộc sống. Có những chủ trương đúng về mục tiêu nhưng khi triển khai lại thiếu tính khả thi vì chưa sát với nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Vì vậy, muốn chính sách đi vào cuộc sống thì quá trình hoạch định chính sách phải bắt đầu từ thực tiễn xã hội, từ những vấn đề người dân đang đối mặt, từ những “điểm nghẽn” trong đời sống dân sinh và sản xuất.

Đội ngũ cán bộ các cấp phải thay đổi phong cách làm việc theo tinh thần “đi đến nơi, nghe đến cùng”. Không thể chỉ điều hành qua báo cáo, số liệu hay những cuộc họp hành chính khép kín.

Báo cáo có thể phản ánh tình hình, nhưng không thể thay thế hơi thở thực tiễn. Nếu người lãnh đạo không trực tiếp đối thoại với nhân dân, không lắng nghe những bức xúc từ cơ sở thì rất dễ rơi vào tình trạng chủ quan, xa rời thực tế.

Xây dựng cơ chế đối thoại định kỳ và thực chất giữa chính quyền với nhân dân; coi việc tiếp dân, lắng nghe dân không phải là thủ tục hành chính mà là trách nhiệm chính trị và đạo đức công vụ.

Quan trọng hơn, sau đối thoại phải có phản hồi cụ thể, có giải pháp giải quyết và có cơ chế giám sát việc thực hiện. Chỉ khi người dân cảm nhận được tiếng nói của mình được tôn trọng và có giá trị thì mới củng cố được niềm tin xã hội.

Thứ hai , phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa theo hướng thực chất hơn, hiệu quả hơn và gắn chặt hơn với quyền làm chủ của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi dân chủ là bản chất của chế độ mới. Theo Người, dân chủ không chỉ là quyền được phát biểu mà còn là quyền được tham gia quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của mình.

Trong điều kiện hiện nay, phát huy dân chủ không thể dừng ở việc công khai thông tin hay lấy ý kiến mang tính hình thức. Người dân cần được tham gia ngay từ giai đoạn hình thành chính sách, từ khâu phản biện, góp ý đến giám sát thực hiện và đánh giá hiệu quả chính sách. Đây chính là cách để bảo đảm chính sách “đúng dân, hợp dân và thuận dân”.

Thực tế cho thấy, nhiều chính sách khi ban hành gặp phản ứng xã hội không phải vì mục tiêu sai mà vì quá trình xây dựng thiếu đối thoại, thiếu tham vấn rộng rãi hoặc chưa đánh giá đầy đủ tác động đến đời sống người dân.

Vì vậy, cần mở rộng các kênh phản biện xã hội, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, giới trí thức, chuyên gia và báo chí trong việc tham gia góp ý chính sách.

Đồng thời, phải bảo đảm dân chủ đi đôi với kỷ cương, pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh dân chủ phải có tổ chức, có lãnh đạo, không được lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ hoặc làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Do đó, việc phát huy dân chủ hiện nay cần gắn với nâng cao ý thức công dân, trách nhiệm xã hội và tinh thần thượng tôn pháp luật.

Picture 9

Thứ ba , đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số và các nền tảng tương tác số với người dân. Một nền hành chính hiện đại không thể tồn tại tình trạng người dân phải đi lại nhiều lần, chờ đợi kéo dài hay khó tiếp cận thông tin công quyền.

Chuyển đổi số phải hướng tới mục tiêu phục vụ người dân thuận tiện hơn, minh bạch hơn và nhanh hơn. Khi người dân có thể phản ánh kiến nghị trực tuyến, theo dõi tiến độ giải quyết hồ sơ, giám sát hoạt động công vụ và đánh giá mức độ hài lòng trên các nền tảng số, trách nhiệm giải trình của bộ máy công quyền sẽ được nâng cao đáng kể.

Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là số hóa quy trình mà là thay đổi tư duy phục vụ. Nếu chỉ chuyển các thủ tục rườm rà từ môi trường giấy sang môi trường điện tử mà không cải cách thực chất thì chuyển đổi số khó tạo ra hiệu quả thực sự.

Vì vậy, cần xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, giảm tối đa thủ tục trung gian, đồng thời bảo đảm mọi phản ánh, kiến nghị của người dân đều được tiếp nhận, xử lý và phản hồi minh bạch.

Mặt khác, chuyển đổi số cũng cần gắn với thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, nhóm xã hội. Nếu người dân ở vùng sâu, vùng xa hoặc người yếu thế không thể tiếp cận dịch vụ số thì mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau” sẽ khó đạt được. Bởi vậy, chuyển đổi số phải đi liền với nâng cao dân trí, phổ cập kỹ năng số và xây dựng hạ tầng số đồng bộ.

Thứ tư , xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”. Một chính sách đúng nhưng cán bộ thực hiện yếu kém, thiếu trách nhiệm hoặc vụ lợi thì vẫn có thể gây tổn hại đến lòng dân.

nd-2.jpg

Cán bộ Trung tâm phục vụ hành chính công xã Quỹ Nhất (tỉnh Ninh Bình) hướng dẫn người dân thao tác trên robot lễ tân trí tuệ nhân tạo ( Ảnh: TTXVN)

Trong kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ không chỉ là phẩm chất đạo đức mà còn là năng lực quản trị hiện đại, tư duy đổi mới và tinh thần dám chịu trách nhiệm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn cán bộ phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Đó chính là yêu cầu về phong cách công tác sâu sát thực tiễn, nói đi đôi với làm và gắn bó mật thiết với nhân dân.

Do đó, cần đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá, sử dụng và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ không thể chỉ dựa vào hồ sơ, quy trình hay thành tích hình thức mà phải dựa vào hiệu quả công việc, tinh thần trách nhiệm và mức độ hài lòng của người dân.

Những cán bộ trì trệ, né tránh, sợ trách nhiệm hoặc gây phiền hà cho dân cần bị xử lý nghiêm; đồng thời, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung.

Thứ năm , không ngừng chăm lo, bồi đắp niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, niềm tin của nhân dân chính là nền tảng chính trị quan trọng nhất của chế độ. “Được lòng dân” không chỉ là mục tiêu mà còn là điều kiện bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng.

Ngày nay, niềm tin ấy được xây dựng bằng hiệu quả phát triển thực chất và bằng sự công bằng trong quản trị xã hội. Người dân sẽ tin khi quyền lợi chính đáng của họ được bảo vệ; khi pháp luật được thực thi nghiêm minh; khi tham nhũng, tiêu cực bị xử lý không có vùng cấm, không có ngoại lệ; khi cán bộ gần dân, trọng dân và có trách nhiệm với nhân dân.

Niềm tin cũng được củng cố khi thành quả phát triển được phân bổ công bằng và mọi người dân đều có cơ hội phát triển. Nếu tăng trưởng kinh tế không đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, nếu khoảng cách giàu nghèo gia tăng hoặc người dân không được thụ hưởng thành quả đổi mới, thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự đồng thuận xã hội.

Picture 10

Có thể khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân không chỉ là giá trị lịch sử, mà còn là ánh sáng soi đường cho hiện tại và tương lai. Kiên định lấy nhân dân làm trung tâm, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, chăm lo hạnh phúc của nhân dân chính là con đường để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội như Đại hội XIV đã đề ra./.

TS Trần Văn Thư, Học viện Báo chí và Tuyên truyền •
Nguồn bài viết: Chuyên trang Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Cộng sản
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com