Phát triển con người trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay

     Phát triển con người trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay là cuốn sách tổng hợp những nghiên cứu tiêu biểu từ Hội thảo khoa học thường niên lần thứ nhất được tổ chức vào năm 2023 của Viện Nghiên cứu Con người. Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề đặt ra cho sự phát triển con người (PTCN) Việt Nam trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số ở nước ta được đánh giá là nhanh nhất thế giới. Năm 2023, Việt Nam đã thuộc nhóm 15 quốc gia có dân số đông nhất thế giới, đứng thứ 8 châu Á và thứ 3 khu vực Đông Nam Á. Những năm 20 của thế kỷ XXI là thời kì “dân số vàng” của Việt Nam - tỉ lệ dân số trẻ cao nhất trong lịch sử, thanh thiếu niên chiếm 21,1% trong gần 100 triệu dân - một lao động chỉ “phải nuôi” một người. Nhưng thời kì “vàng” này lại đang trôi qua rất nhanh. Những người từ 60 tuổi trở lên từ 11,9% dân số năm 2019 đã tăng đến 13,9% năm 2023. Từ năm 2036, thời kì dân số già sẽ bắt đầu, tức là từ lúc đó Việt Nam là một “xã hội già”. Sự thay đổi nhân khẩu học này xảy ra kéo theo một loạt vấn đề xã hội cần có chiến lược sáng suốt để giải quyết.

      Không chỉ là kỷ yếu của một hội thảo mà gần giống như một chuyên khảo, cuốn sách phản ánh những kết quả nghiên cứu mới nhất, ít nhiều có thừa kế quá trình nghiên cứu gần 25 năm từ ngày thành lập Viện Nghiên cứu Con người. Cuốn sách được cấu trúc thành 4 phần.

     Phần đầu tập trung giới thiệu về quá trình phát triển và định hướng nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Con người, đơn vị tiên phong trong nghiên cứu các vấn đề về Con người và PTCN. Qua gần 25 năm hoạt động, Viện đã không ngừng mở rộng các nghiên cứu từ lí luận đến thực tiễn, xây dựng được uy tín khoa học trong và ngoài nước. Ngoài nghiên cứu các vấn đề lí luận và lí thuyết, phương pháp và phương pháp luận, các quan điểm và cách tiếp cận, v.v. Viện Nghiên cứu Con người dự kiến sẽ đi sâu hơn vào một số lĩnh vực đặc thù trong nghiên cứu con người. Chẳng hạn, nghiên cứu thực trạng và sự biến động của vốn con người, tiềm năng con người, đặc biệt là tài năng và nhân tài trong các hoạt động xã hội cụ thể. Về quyền con người (QCN), Viện Nghiên cứu Con người sẽ nghiên cứu và đưa ra các đánh giá về thực trạng bảo đảm QCN, an ninh con người, đặc biệt đối với các nhóm dễ bị tổn thương, v.v. Về giá trị, QCN sẽ được nghiên cứu trong quan hệ với các giá trị chính trị, pháp lý, các giá trị chung của nhân loại, v.v.. Vấn đề chất lượng sống và hạnh phúc con người sẽ được chú ý nghiên cứu ở từng vùng miền và trong từng nhóm người, bên cạnh những nghiên cứu ở phạm vi quốc gia. Việc nghiên cứu định lượng sẽ được tăng cường với những tính toán, đo lường các chỉ số như an ninh con người, vốn con người, chỉ số QCN, chỉ số chất lượng sống và hạnh phúc, v.v.. Đây là những nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn và đang được kì vọng.

      Ở phần hai, cuốn sách đi sâu vào phân tích già hóa dân số tại Việt Nam - một hiện tượng nhân khẩu học đang diễn ra nhanh chóng và mang đến những tác động sâu sắc trên nhiều lĩnh vực. Việt Nam với dân số gần 100 triệu người, đang trải qua giai đoạn "dân số vàng" nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với tốc độ già hóa dân số thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Các nghiên cứu trong phần này tập trung làm rõ những thách thức và cơ hội mà già hóa dân số mang lại. Trong khi già hóa dân số là minh chứng rõ rệt về chất lượng sống và tuổi thọ tăng, nó cũng đặt ra sức ép lớn về lao động, hệ thống an sinh xã hội và khả năng thích nghi của xã hội. Những vấn đề như thiếu hụt lao động, gia tăng nhu cầu chăm sóc y tế và sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ dân số cao tuổi đều được thảo luận chi tiết.

      Hiện tại ở Việt Nam, hầu hết người cao tuổi (NCT) đều sống cùng con cái, các mô hình chăm sóc NCT chỉ phổ biến ở các thành phố lớn và không phù hợp với mức thu nhập của nhiều tầng lớp. Các nhóm xã hội có thu nhập thấp thường không đủ điều kiện để thích ứng với trách nhiệm chăm sóc người già. Sự bền chặt trong quan hệ giữa NCT và con cháu trong gia đình đang bị suy giảm Trách nhiệm xã hội của cả chính sách xã hội và cả đời sống gia đình đang bị thử thách. Đây chính là vấn đề của nghiên cứu con người trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam.

      Chủ đề PTCN trong bối cảnh già hóa dân số thu hút được nhiều nhất sự quan tâm của các tác giả. Các bài viết đã bàn đến những vấn đề rất đặc trưng cho PTCN - các vấn đề về đào tạo nghề, tạo việc làm; các thách thức về lao động - việc làm - thu nhập trong tình trạng số NCT tăng; thị trường lao động biến động với sự tham gia rất đặc thù của NCT; sự phân biệt tuổi tác và tiếp cận việc làm; vấn đề chất lượng nguồn nhân lực “trong độ tuổi lao động”; an ninh thu nhập của NCT; mô hình sắp xếp cuộc sống của NCT; vấn đề già hóa lao động trồng lúa ở đồng bằng Bắc Bộ, vai trò của cộng đồng, của già làng và của chính NCT trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong bối cảnh già hóa dân số, v.v..

      Phần ba của cuốn sách hướng tới việc phát huy vai trò của NCT trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Đây là nhóm nhân khẩu học không chỉ cần được bảo vệ mà còn có tiềm năng đóng góp lớn vào sự phát triển chung của xã hội. Các nghiên cứu trong phần này làm rõ thực trạng đời sống của NCT, từ việc chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội đến mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình. Trong bối cảnh hiện đại hóa và đô thị hóa, những mô hình chăm sóc truyền thống đang dần suy giảm, đặc biệt tại khu vực thành thị. Cuốn sách nhấn mạnh rằng, để phát huy tối đa vai trò của NCT, cần xây dựng các mô hình chăm sóc cộng đồng, cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy sự tham gia của họ vào các hoạt động kinh tế và xã hội.

      Phần cuối cùng mở rộng phạm vi phân tích với những kinh nghiệm quốc tế từ các quốc gia đã sớm đối mặt với già hóa dân số như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc vá một số nước Đông Nam Á. Các nghiên cứu so sánh cho thấy rằng, những quốc gia này đã triển khai nhiều mô hình và chính sách sáng tạo, từ cải thiện hệ thống an sinh xã hội, khuyến khích NCT tham gia lao động đến hỗ trợ gia đình trong việc chăm sóc người già. Những bài học từ các quốc gia này không chỉ cung cấp góc nhìn tham khảo mà còn là gợi ý quan trọng để Việt Nam xây dựng các chiến lược phù hợp với điều kiện kinh tế của mình.

      Phát triển con người trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay không chỉ là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu mà còn là lời kêu gọi hành động đối với các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách và toàn xã hội. Cuốn sách mang đến một cái nhìn toàn diện, đa chiều về những thách thức và cơ hội mà già hóa dân số mang lại, đồng thời gợi mở quan tâm và thảo luận về cách thức Việt Nam có thể thích ứng và phát triển bền vững trong bối cảnh mới. Với tinh thần học thuật và thực tiễn cao, cuốn sách không chỉ đóng vai trò tổng kết mà còn định hướng cho các nghiên cứu và chính sách tương lai.

       Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lê Thị Đan Dung

 

 

 

Giới thiệu sách: Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

Picture 1


Thúc đẩy bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những mục tiêu quan trọng trong tiến trình phát triển bền vững của quốc gia hành trình thu hẹp khoảng cách giới tại các khu vực này luôn đối mặt với không ít rào cản về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, tập quán và nguồn lực… Nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện, mang tính hệ thống từ lý luận đến thực tiễn về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số, năm 2020, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (nay là Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới) đã ra mắt cuốn chuyên khảo Thực hiện bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam do GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa đồng chủ biên. Với cấu trúc gồm 9 chương, cuốn sách chuyên khảo đã có những phân tích sâu sắc về thực trạng bình đẳng giới (BĐG) trên các lĩnh vực then chốt từ chính trị, kinh tế, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cho đến đời sống gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Mở đầu cuốn chuyên khảo, ở Chương 1: Một số vấn đề về cơ sở lý luận nghiên cứu bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, các tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ bản về BĐG, các cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu, từ đó chỉ ra các yếu tố tác động đến BĐG từ cấp độ cá nhân, gia đình đến cộng đồng, xã hội cũng như xây dựng các chỉ báo đánh giá BĐG ở vùng DTTS Việt Nam. Đồng thời, tại Chương 2: Thực trạng và hiệu quả thực hiện chính sách về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, thông qua việc hệ thống hoá các văn bản pháp luật và chính sách về BĐG đối với vùng DTTS, các tác giả đã phân tích hiệu quả và tác động của các chính sách BĐG đó đến đồng bào DTTS, giúp người đọc hiểu rõ hơn về thực trạng BĐG ở các chương sau.

Từ Chương 3 đến Chương 6, cuốn sách đã phác hoạ bức tranh đa chiều về thực trạng BĐG ở vùng DTTS qua 4 lĩnh vực quan trọng là chính trị, giáo dục, lao động và y tế, cụ thể như sau:

Chương 3: Bình đẳng giới trong chính trị ở vùng dân tộc thiểu số. Chương này, các tác giả đã đi sâu phân tích và làm rõ nhận thức, quan niệm của cán bộ và người dân về năng lực lãnh đạo và tham gia hoạt động quản lý của nam giới và phụ nữ; hiểu biết về quyền tham gia của phụ nữ vào các công việc của cộng đồng và quyền tự ứng cử của phụ nữ; thực trạng tham gia của nam giới và nữ giới người DTTS vào lĩnh vực chính trị; các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và vai trò lãnh đạo của nam giới và nữ giới ; rà soát quá trình triển khai thực hiện chính sách pháp luật về BĐG trong chính trị ở các địa phương; từ đó, nhận diện một số vấn đề giới trong chính trị ở vùng DTTS cần quan tâm.

Chương 4: Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở một số dân tộc thiểu số. Chương này phân tích mức độ bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục giữa nam giới và nữ giới, giữa trẻ em trai và trẻ em gái ở một số nhóm DTTS thông qua các khía cạnh: trình độ học vấn cao nhất đạt được, tình trạng mù chữ, tái mù chữ và tiếp cận giáo dục của trẻ em; làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự bình đẳng giới trong lĩnh vực này, cũng như những tác động tích cực và bất cập cần được giải quyết trong các chính sách về giáo dục, đặc biệt từ năm 2010 đến nay.

Chương 5: Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lao động, việc làm. Chương này đã thực hiện so sánh các khía cạnh về thu nhập, nghề nghiệp, khu vực làm việc và đào tạo nghề giữa nam giới và nữ giới người DTTS để làm rõ mức độ BĐG trong lĩnh vực này; đồng thời đánh giá việc triển khai các chính sách liên quan đến BĐG về lao động, việc làm qua ý kiến của đội ngũ cán bộ cấp huyện, xã và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các quy định của luật pháp, chính sách BĐG về lao động, việc làm ở vùng DTTS.

Chương 6: Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ. Chương này t ập trung vào thực trạng về sức khoẻ của người DTTS, đặc biệt là thực trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản tiêm chủng cho trẻ nhỏ . Các tác giả cũng đề cập đến các chính sách y tế cho người DTTS và chỉ ra những khoảng cách còn tồn tại trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế giữa nam giới và nữ giới, giữa các dân tộc ở vùng cao và các dân tộc ở vùng thung lũng, đồng bằng.

Chương 7: Phân công lao động theo giới trong gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã phản ánh chi tiết sự khác biệt trong quan niệm và thực hành phân công công việc trong gia đình giữa nam và nữ ở các nhóm xã hội.

Chương 8: Quyền quyết định giữa vợ và chồng trong một số hoạt động mua sắm của gia đình dân tộc Chăm (Ninh Thuận) và Dao (Lạng Sơn). So sánh sự khác biệt trong mô hình quyền quyết định hoạt động mua sắm của gia đình giữa hai nhóm dân tộc đã làm nổi bật vai trò quan trọng của yếu tố văn hoá, đặc trưng văn hoá của dân tộc đối với quan hệ giới.

Chương 9: Bạo lực gia đình ở vùng dân tộc thiểu số. Nội dung chương này đã đề cập trực diện đến thực trạng bạo lực gia đình ở vùng DTTS, từ bạo lực thể xác, tinh thần đến bạo lực kinh tế , bạo lực của chồng đối với vợ, bạo lực của vợ đối với chồng, nguyên nhân bạo lực và cách thức giải quyết bạo lực. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đ cập đến các chính sách, pháp luật phòng chống bạo lực gia đình và phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai chính sách.

đã được xuất bản từ năm 2020 nhưng cuốn sách “Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam” đến nay vẫn giữ nguyên tính thời sự, đồng thời tiếp tục cung cấp những định hướng có ý nghĩa đối với hoạt động nghiên cứu cũng như thực tiễn triển khai các chính sách về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Đây là số ít các công trình chuyên khảo hiếm hoi Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Không chỉ góp phần bổ sung những thông tin hữu ích vào kho tàng tri thức hiện có, cuốn sách còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà khoa học, các học viên, sinh viên ngành khoa học xã hội , đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, bình đẳng giới và những người quan tâm.

Thông tin xuất bản:

        Tên sách: Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

        Chủ biên: GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa

        Nơi xuất bản: Nxb. Khoa học Xã hội

        Năm xuất bản: 2020

        Số trang: 343 trang

        Mã số ISBN: 978-604-956-971-5

        Liên hệ: Thư viện Viện nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới

Tùng Linh

Tin mới
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com