Phát huy vốn xã hội nhằm mục tiêu phát triển kinh tế: nghiên cứu trường hợp của người dân miền Tây tỉnh Nghệ An/ PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Lê chủ biên._H.: Nxb Khoa học xã hội, 2023._323 tr.

Tại sao cùng trong một vùng miền nhưng cộng đồng này lại giao thương buôn bán mạnh hơn cộng đồng khác? Tại sao tập quán sinh hoạt, văn hóa thôn bản khá tương đồng nhưng nơi này mức độ phát triển con người lại cao hơn nơi khác? Các cấp chính quyền với các nỗ lực thay đổi chính sách, quản trị sẽ ảnh hưởng như thế nào tới mạng lưới, lòng tin và thể chế tại địa phương? Với một nền kinh tế hoạt động dựa trên mạng lưới và đang hội nhập như Việt Nam, thì vốn xã hội ở nông thôn liệu có thể trở thành động lực để phát triển kinh tế? Những câu hỏi này có thể được giải đáp khi coi vốn xã hội như là một nguồn nội lực để tác động tích cực tới phát triển kinh tế.

 Miền Tây tỉnh Nghệ An, một đại diện tiêu biểu cho vùng nông thôn với nhiều nhóm DTTS khác nhau cùng sinh sống, cũng ở đây còn nhiều xã đang thuộc diện khó khăn với tỉ lệ hộ nghèo còn cao nên việc nâng cao vai trò của vốn xã hội trong phát triển kinh tế của người dân ở đây có ý nghĩa quan trọng. Cuốn sách: “Phát huy vốn xã hội nhằm mục tiêu phát triển kinh tế: nghiên cứu trường hợp của người dân miền Tây tỉnh Nghệ An” không chỉ cung cấp luận cứ khoa học nhằm xây dựng thể chế cũng như môi trường tốt nhất cho phát huy các nguồn lực tại địa phương, mà còn giúp bản thân các doanh nghiệp và người dân nhận thức đúng hơn về vai trò quan trọng của các mạng lưới quan hệ, của các giá trị bên trong cộng đồng như lòng tin, sự chia sẻ,... cho mục tiêu phát triển kinh tế. Đây còn là bài học kinh nghiệm mà các địa phương khác có thể tham khảo để tổng hợp các nguồn lực đáp ứng các yêu cầu trong tiến trình phát triển kinh tế cho địa phương mình trong dài hạn.

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và các bảng biểu phụ lục, nội dung cuốn sách được giới thiệu tập trung trong bốn chương.

Chương 1. Nghiên cứu vốn xã hội và vai trò của vốn xã hội đối với phát triển kinh tế. Trong chương này nhóm tác giả trình bày đôi nét nội hàm vốn xã hội, các chỉ báo vốn xã hội, các nhân tố ảnh hưởng đến vốn xã hội; vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển kinh tế và đôi nét về địa bàn nghiên cứu, cách tiếp cận và nghiên cứu vốn xã hội ở vùng miền Tây Nghệ An.

Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm lý thuyết của ba nhà nghiên cứu tiêu biểu là Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert D. Putnam và một số nhà nghiên cứu khác, nhóm tác giả chỉ ra một số điểm chung, cốt lõi trong nội hàm khái niệm vốn xã hội, bao gồm: “1/ đều liên kết các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị và mặc nhiên thừa nhận rằng các mối quan hệ xã hội ảnh hưởng đến cách thức vận hành của thị trường và nhà nước; 2/ đều tập trung vào các mối quan hệ và cách thức mà các mối quan hệ giúp cho sự ổn định, đáng tin cậy giữa các thành viên nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của cả hành động cũng như sự tương tác của tập thể và cá nhân như các mối quan hệ và sự kết nối, sự tin tưởng, sự tham gia của cộng đồng và các hoạt động tình nguyện và chuẩn mực công dân, chuẩn mực và giá trị chung; 3/ đều giả định rằng vốn xã hội có thể được tăng cường và quá trình này cần có nguồn lực” [tr. 82].

Các chỉ báo vốn xã hội được khái quát các cấp độ khác nhau. Ở cấp vĩ mô, chỉ báo này gồm hai nhóm chính là các quy định pháp luật, chính sách, thể chế và niềm tin vào thể chế. Ở cấp độ vi mô, vốn xã hội được phản ánh trên ba chiều cạnh: mạng lưới cá nhân, mạng lưới tập thể mà cá nhân đó có thể tham gia vào, niềm tin và các chuẩn mực xã hội chung.

Trong nghiên cứu cụ thể tại Nghệ An, xuất phát từ quan điểm cấu trúc xã hội, nhóm tác giả xem xét vốn xã hội đối với sự phát triển kinh tế của người dân ở vùng miền Tây Nghệ An chủ yếu từ góc độ vi mô, bao gồm: vốn xã hội mang tính cấu trúc, vốn xã hội mang tính nhận thức và vốn xã hội mang tính quan hệ. Các khía cạnh được xem xét trong mạng lưới xã hội bao gồm số lượng và chất lượng của các mối quan hệ thể hiện ở sự hình thành, kết nối, duy trì các quan hệ, sự gắn bó, tin cậy, cam kết, quan hệ có đi có lại, sự đầu tư và tham gia vào các mạng lưới xã hội để khai thác các nguồn lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế.

Chương 2. Thực trạng vốn xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến vốn xã hội ở vùng miền Tây Nghệ An. Thông qua kết quả khảo sát thực tiễn tại 3 huyện Kỳ Sơn, Con Cuông và Quế Phong, nhóm tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng vốn xã hội của người dân miền Tây Nghệ An trên các khía cạnh: mạng lưới xã hội; mức độ duy trì sự kết nối và tham gia vào mạng lưới xã hội của người dân miền Tây Nghệ An; niềm tin và các giá trị cùng chia sẻ. Nhóm tác giả cũng đi sâu phân tích thực trạng các chính sách và chương trình của tỉnh Nghệ An về phát triển kinh tế- xã hội và các tác động của nó đến vốn xã hội của người dân miền Tây Nghệ An; Các yếu tố ảnh hưởng đến vốn xã hội của người dân tại đây cũng được phân tích bao gồm yếu tố cá nhân, yếu tố cơ sở hạ tầng và yếu tố văn hóa- xã hội.

Từ kết quả khảo sát thu được, nhóm tác giả cho rằng “vốn xã hội của người dân là khá yếu, tương đối co cụm…. niềm tin và các giá trị được chia sẻ cũng chủ yếu trong họ hàng, dòng tộc và người quen biết. Người dân chủ yếu tham gia vào mạng lưới chính thức ở địa phương…. chưa có nhiều người dân có các mối quan hệ khác nhất là các quan hệ hỗ trợ cho hoạt động phát triển sản xuất” [tr.183].

Đi sâu phân tích, nhóm nghiên cứu cho rằng nam giới có mạng lưới xã hội rộng hơn nữ giới, tỉ lệ nam giới tham gia các hội đặc biệt các hội phi chính thức cao hơn nữ giới; không có nhiều sự khác biệt giữa các dân tộc cũng như trình độ học vấn trong việc tham gia vào mạng lưới xã hội chính thức mà chỉ có khác biệt khi tham gia mạng lưới phi chính thức; một số nhóm dân tộc có vốn xã hội yếu hơn. Các yếu tố cơ sở hạ tầng là nhân tố có ảnh hưởng tỉ lệ thuận với sự tham gia của người dân vào các mạng lưới. Một số nét văn hóa như truyền thống đoàn kết, tính cố kết cộng đồng, truyền thống học hành v.v.. góp phần vào việc hình thành, nuôi dưỡng và mở rộng vốn xã hội của người dân, tuy nhiên tính cố kết dòng họ cũng lại là rào cản trong việc mở rộng vốn xã hội của người dân tộc thiểu số ở đây.

Chương 3. Vai trò của vốn xã hội đối với phát triển kinh tế ở miền Tây Nghệ An. Vai trò này được thể hiện trên các bình diện thu nhập, việc làm và việc tiếp cận các nguồn lực kinh tế của người dân ở vùng miền Tây Nghệ An. Sử dụng phương pháp hồi quy OLS-Ordinary Least Square để phân tích dữ liệu thu thập nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của vốn xã hội đến phát triển kinh tế của người dân, kết quả cho thấy: “các yếu tố vốn xã hội không có tác động có ý nghĩa thống kê đến thu nhập của người dân” [tr.192] mà nguyên nhân được nhóm tác giả cho rằng do vốn xã hội của người dân tại đây chưa cao, họ chưa nhận thức tầm quan trọng của vốn xã hội và chưa chủ động gây dựng hay phát huy để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khi xem xét từng chiều cạnh cụ thể, yếu tố mở rộng mạng lưới liên kết, niềm tin, tiếp cận với các nguồn thông tin được đánh giá là hữu ích, có tác động tích cực đến phát triển kinh tế. Khá đặc biệt là nghiên cứu chỉ ra việc tham gia hội kinh tế tự nguyện lại có tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế, nhóm cho rằng chính là khi tham gia hội này rồi người dân lại cho rằng không cần thiết phải mở rộng thêm các hội nhóm khác [tr.206].

Chương 4. Các giải pháp nhằm phát huy vốn xã hội nhằm mục tiêu phát triển kinh tế của người dân miền Tây Nghệ An. Trên cơ sở nêu quan điểm về việc đề xuất các giải pháp, phân tích cơ sở và bối cảnh xây dựng giải pháp, nhóm tác giả đề ra ba nhóm giải pháp nhằm phát huy vốn xã hội cho phát triển kinh tế vùng miền Tây Nghệ An, bao gồm nhóm giải pháp liên quan việc xây dựng chính sách, nhóm giải pháp đối với chính quyền các cấp và nhóm giải pháp cho cộng đồng. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng khuyến nghị giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế và nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như nâng cao vai trò của phụ nữ, hướng tới xóa bỏ bất bình đẳng giới trong phát triển kinh tế.

Cuốn sách là kết quả nghiên cứu hợp tác giữa Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An, thuộc chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ “Chương trình khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển nhanh và bền vững kinh tế- xã hội tại địa phương”. Với nhiều thông tin cả về lý luận và thực tiễn, đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và những ai quan tâm phát triển con người, kinh tế xã hội cho người dân nói chung và những vùng đặc thù nói riêng.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Thu Hà

 

Giới thiệu sách: Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

Picture 1


Thúc đẩy bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những mục tiêu quan trọng trong tiến trình phát triển bền vững của quốc gia hành trình thu hẹp khoảng cách giới tại các khu vực này luôn đối mặt với không ít rào cản về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, tập quán và nguồn lực… Nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện, mang tính hệ thống từ lý luận đến thực tiễn về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số, năm 2020, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (nay là Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới) đã ra mắt cuốn chuyên khảo Thực hiện bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam do GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa đồng chủ biên. Với cấu trúc gồm 9 chương, cuốn sách chuyên khảo đã có những phân tích sâu sắc về thực trạng bình đẳng giới (BĐG) trên các lĩnh vực then chốt từ chính trị, kinh tế, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cho đến đời sống gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Mở đầu cuốn chuyên khảo, ở Chương 1: Một số vấn đề về cơ sở lý luận nghiên cứu bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, các tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ bản về BĐG, các cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu, từ đó chỉ ra các yếu tố tác động đến BĐG từ cấp độ cá nhân, gia đình đến cộng đồng, xã hội cũng như xây dựng các chỉ báo đánh giá BĐG ở vùng DTTS Việt Nam. Đồng thời, tại Chương 2: Thực trạng và hiệu quả thực hiện chính sách về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, thông qua việc hệ thống hoá các văn bản pháp luật và chính sách về BĐG đối với vùng DTTS, các tác giả đã phân tích hiệu quả và tác động của các chính sách BĐG đó đến đồng bào DTTS, giúp người đọc hiểu rõ hơn về thực trạng BĐG ở các chương sau.

Từ Chương 3 đến Chương 6, cuốn sách đã phác hoạ bức tranh đa chiều về thực trạng BĐG ở vùng DTTS qua 4 lĩnh vực quan trọng là chính trị, giáo dục, lao động và y tế, cụ thể như sau:

Chương 3: Bình đẳng giới trong chính trị ở vùng dân tộc thiểu số. Chương này, các tác giả đã đi sâu phân tích và làm rõ nhận thức, quan niệm của cán bộ và người dân về năng lực lãnh đạo và tham gia hoạt động quản lý của nam giới và phụ nữ; hiểu biết về quyền tham gia của phụ nữ vào các công việc của cộng đồng và quyền tự ứng cử của phụ nữ; thực trạng tham gia của nam giới và nữ giới người DTTS vào lĩnh vực chính trị; các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và vai trò lãnh đạo của nam giới và nữ giới ; rà soát quá trình triển khai thực hiện chính sách pháp luật về BĐG trong chính trị ở các địa phương; từ đó, nhận diện một số vấn đề giới trong chính trị ở vùng DTTS cần quan tâm.

Chương 4: Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở một số dân tộc thiểu số. Chương này phân tích mức độ bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục giữa nam giới và nữ giới, giữa trẻ em trai và trẻ em gái ở một số nhóm DTTS thông qua các khía cạnh: trình độ học vấn cao nhất đạt được, tình trạng mù chữ, tái mù chữ và tiếp cận giáo dục của trẻ em; làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự bình đẳng giới trong lĩnh vực này, cũng như những tác động tích cực và bất cập cần được giải quyết trong các chính sách về giáo dục, đặc biệt từ năm 2010 đến nay.

Chương 5: Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lao động, việc làm. Chương này đã thực hiện so sánh các khía cạnh về thu nhập, nghề nghiệp, khu vực làm việc và đào tạo nghề giữa nam giới và nữ giới người DTTS để làm rõ mức độ BĐG trong lĩnh vực này; đồng thời đánh giá việc triển khai các chính sách liên quan đến BĐG về lao động, việc làm qua ý kiến của đội ngũ cán bộ cấp huyện, xã và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các quy định của luật pháp, chính sách BĐG về lao động, việc làm ở vùng DTTS.

Chương 6: Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ. Chương này t ập trung vào thực trạng về sức khoẻ của người DTTS, đặc biệt là thực trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản tiêm chủng cho trẻ nhỏ . Các tác giả cũng đề cập đến các chính sách y tế cho người DTTS và chỉ ra những khoảng cách còn tồn tại trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế giữa nam giới và nữ giới, giữa các dân tộc ở vùng cao và các dân tộc ở vùng thung lũng, đồng bằng.

Chương 7: Phân công lao động theo giới trong gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã phản ánh chi tiết sự khác biệt trong quan niệm và thực hành phân công công việc trong gia đình giữa nam và nữ ở các nhóm xã hội.

Chương 8: Quyền quyết định giữa vợ và chồng trong một số hoạt động mua sắm của gia đình dân tộc Chăm (Ninh Thuận) và Dao (Lạng Sơn). So sánh sự khác biệt trong mô hình quyền quyết định hoạt động mua sắm của gia đình giữa hai nhóm dân tộc đã làm nổi bật vai trò quan trọng của yếu tố văn hoá, đặc trưng văn hoá của dân tộc đối với quan hệ giới.

Chương 9: Bạo lực gia đình ở vùng dân tộc thiểu số. Nội dung chương này đã đề cập trực diện đến thực trạng bạo lực gia đình ở vùng DTTS, từ bạo lực thể xác, tinh thần đến bạo lực kinh tế , bạo lực của chồng đối với vợ, bạo lực của vợ đối với chồng, nguyên nhân bạo lực và cách thức giải quyết bạo lực. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đ cập đến các chính sách, pháp luật phòng chống bạo lực gia đình và phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai chính sách.

đã được xuất bản từ năm 2020 nhưng cuốn sách “Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam” đến nay vẫn giữ nguyên tính thời sự, đồng thời tiếp tục cung cấp những định hướng có ý nghĩa đối với hoạt động nghiên cứu cũng như thực tiễn triển khai các chính sách về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Đây là số ít các công trình chuyên khảo hiếm hoi Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Không chỉ góp phần bổ sung những thông tin hữu ích vào kho tàng tri thức hiện có, cuốn sách còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà khoa học, các học viên, sinh viên ngành khoa học xã hội , đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, bình đẳng giới và những người quan tâm.

Thông tin xuất bản:

        Tên sách: Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

        Chủ biên: GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa

        Nơi xuất bản: Nxb. Khoa học Xã hội

        Năm xuất bản: 2020

        Số trang: 343 trang

        Mã số ISBN: 978-604-956-971-5

        Liên hệ: Thư viện Viện nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới

Tùng Linh

Tin mới
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com