Để không bỏ lại phía sau: Cơ hội và năng lực hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số (Nghiên cứu ở Tây Bắc) sách chuyên khảo
Một nghiên cứu phân tích các chiều cạnh hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số từ quan điểm lý thuyết của cách tiếp cận phát triển con người với thực tiễn vùng Tây Bắc Việt Nam
Anh-tin-bai
Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm xuất bản: 2022
Số trang: 296
Kích thước:14,5x20,5
Tác giả:TS. Vũ Thị Thanh (chủ biên)
ISBN:9786043089288

 

      Cuốn sách: Để không bị bỏ lại phía sau: Cơ hội và năng lực hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số(Nghiên cứu trường hợp phụ nữ dân tộc Thái và Mông vùng Tây Bắc)do TS Vũ Thị Thanh chủ biên là kết quả của đề tài nghiên cứu cấp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, thực hiện năm 2019-2020: “Nghiên cứu hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số từ cách tiếp cận phát triển con người”. Nghiên cứu này phân tích các chiều cạnh hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số từ quan điểm lý thuyết của cách tiếp cận phát triển con người. Theo cách tiếp cận này, quan điểm về phát triển con người là sự mở rộng cơ hội lựa chọn, nâng cao năng lực cho con người và coi con người là chủ thể của quá trình phát triển. Cách tiếp cận phát triển con người lấy con người làm trung tâm, chú trọng đến sự phát triển vì con người, do con người và bởi con người. Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Lai Châu - một tỉnh vùng Tây Bắc với tỷ lệ nghèo cao nhất và chỉ số phát triển con người HDI thấp nhất cả nước. Tỉnh Lai Châu có tới hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái và Mông (chiếm khoảng 60%). Do đó, khi tiến hành khảo sát ở tỉnh Lai Châu, nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào việc phân tích sự hòa nhập xã hội hai nhóm đối tượng là phụ nữ dân tộc Thái và dân tộc Mông. Đây là hai nhóm dân tộc thiểu số có mức độ phát triển khác nhau. Trong khi dân tộc Thái thuộc nhóm dân tộc thiểu số có trình độ phát triển khá tốt (với chỉ số HDI là 0,52) thì dân tộc Mông lại là nhóm có mức độ phát triển con người thấp nhất trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (với chỉ số HDI là 0,38). Việc nghiên cứu hòa nhập xã hội ở hai nhóm dân tộc thiểu số có mức độ phát triển khác nhau giúp đem đến cái nhìn đa chiều hơn về thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến sự hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số.

      Cuốn sách đưa ra những kết luận chính về sự hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số và một số khuyến nghị về chính sách, khuyến nghị với chính quyền địa phương nhằm góp phần thúc đẩy sự hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số.

       Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới xin trân trọng giới thiệu!

 

      Tài liệu lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, tầng 1 số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Giới thiệu sách: Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

Picture 1


Thúc đẩy bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những mục tiêu quan trọng trong tiến trình phát triển bền vững của quốc gia hành trình thu hẹp khoảng cách giới tại các khu vực này luôn đối mặt với không ít rào cản về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, tập quán và nguồn lực… Nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện, mang tính hệ thống từ lý luận đến thực tiễn về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số, năm 2020, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (nay là Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới) đã ra mắt cuốn chuyên khảo Thực hiện bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam do GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa đồng chủ biên. Với cấu trúc gồm 9 chương, cuốn sách chuyên khảo đã có những phân tích sâu sắc về thực trạng bình đẳng giới (BĐG) trên các lĩnh vực then chốt từ chính trị, kinh tế, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cho đến đời sống gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Mở đầu cuốn chuyên khảo, ở Chương 1: Một số vấn đề về cơ sở lý luận nghiên cứu bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, các tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ bản về BĐG, các cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu, từ đó chỉ ra các yếu tố tác động đến BĐG từ cấp độ cá nhân, gia đình đến cộng đồng, xã hội cũng như xây dựng các chỉ báo đánh giá BĐG ở vùng DTTS Việt Nam. Đồng thời, tại Chương 2: Thực trạng và hiệu quả thực hiện chính sách về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, thông qua việc hệ thống hoá các văn bản pháp luật và chính sách về BĐG đối với vùng DTTS, các tác giả đã phân tích hiệu quả và tác động của các chính sách BĐG đó đến đồng bào DTTS, giúp người đọc hiểu rõ hơn về thực trạng BĐG ở các chương sau.

Từ Chương 3 đến Chương 6, cuốn sách đã phác hoạ bức tranh đa chiều về thực trạng BĐG ở vùng DTTS qua 4 lĩnh vực quan trọng là chính trị, giáo dục, lao động và y tế, cụ thể như sau:

Chương 3: Bình đẳng giới trong chính trị ở vùng dân tộc thiểu số. Chương này, các tác giả đã đi sâu phân tích và làm rõ nhận thức, quan niệm của cán bộ và người dân về năng lực lãnh đạo và tham gia hoạt động quản lý của nam giới và phụ nữ; hiểu biết về quyền tham gia của phụ nữ vào các công việc của cộng đồng và quyền tự ứng cử của phụ nữ; thực trạng tham gia của nam giới và nữ giới người DTTS vào lĩnh vực chính trị; các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và vai trò lãnh đạo của nam giới và nữ giới ; rà soát quá trình triển khai thực hiện chính sách pháp luật về BĐG trong chính trị ở các địa phương; từ đó, nhận diện một số vấn đề giới trong chính trị ở vùng DTTS cần quan tâm.

Chương 4: Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở một số dân tộc thiểu số. Chương này phân tích mức độ bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục giữa nam giới và nữ giới, giữa trẻ em trai và trẻ em gái ở một số nhóm DTTS thông qua các khía cạnh: trình độ học vấn cao nhất đạt được, tình trạng mù chữ, tái mù chữ và tiếp cận giáo dục của trẻ em; làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự bình đẳng giới trong lĩnh vực này, cũng như những tác động tích cực và bất cập cần được giải quyết trong các chính sách về giáo dục, đặc biệt từ năm 2010 đến nay.

Chương 5: Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lao động, việc làm. Chương này đã thực hiện so sánh các khía cạnh về thu nhập, nghề nghiệp, khu vực làm việc và đào tạo nghề giữa nam giới và nữ giới người DTTS để làm rõ mức độ BĐG trong lĩnh vực này; đồng thời đánh giá việc triển khai các chính sách liên quan đến BĐG về lao động, việc làm qua ý kiến của đội ngũ cán bộ cấp huyện, xã và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các quy định của luật pháp, chính sách BĐG về lao động, việc làm ở vùng DTTS.

Chương 6: Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ. Chương này t ập trung vào thực trạng về sức khoẻ của người DTTS, đặc biệt là thực trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản tiêm chủng cho trẻ nhỏ . Các tác giả cũng đề cập đến các chính sách y tế cho người DTTS và chỉ ra những khoảng cách còn tồn tại trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế giữa nam giới và nữ giới, giữa các dân tộc ở vùng cao và các dân tộc ở vùng thung lũng, đồng bằng.

Chương 7: Phân công lao động theo giới trong gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã phản ánh chi tiết sự khác biệt trong quan niệm và thực hành phân công công việc trong gia đình giữa nam và nữ ở các nhóm xã hội.

Chương 8: Quyền quyết định giữa vợ và chồng trong một số hoạt động mua sắm của gia đình dân tộc Chăm (Ninh Thuận) và Dao (Lạng Sơn). So sánh sự khác biệt trong mô hình quyền quyết định hoạt động mua sắm của gia đình giữa hai nhóm dân tộc đã làm nổi bật vai trò quan trọng của yếu tố văn hoá, đặc trưng văn hoá của dân tộc đối với quan hệ giới.

Chương 9: Bạo lực gia đình ở vùng dân tộc thiểu số. Nội dung chương này đã đề cập trực diện đến thực trạng bạo lực gia đình ở vùng DTTS, từ bạo lực thể xác, tinh thần đến bạo lực kinh tế , bạo lực của chồng đối với vợ, bạo lực của vợ đối với chồng, nguyên nhân bạo lực và cách thức giải quyết bạo lực. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đ cập đến các chính sách, pháp luật phòng chống bạo lực gia đình và phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai chính sách.

đã được xuất bản từ năm 2020 nhưng cuốn sách “Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam” đến nay vẫn giữ nguyên tính thời sự, đồng thời tiếp tục cung cấp những định hướng có ý nghĩa đối với hoạt động nghiên cứu cũng như thực tiễn triển khai các chính sách về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Đây là số ít các công trình chuyên khảo hiếm hoi Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Không chỉ góp phần bổ sung những thông tin hữu ích vào kho tàng tri thức hiện có, cuốn sách còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà khoa học, các học viên, sinh viên ngành khoa học xã hội , đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, bình đẳng giới và những người quan tâm.

Thông tin xuất bản:

        Tên sách: Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

        Chủ biên: GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa

        Nơi xuất bản: Nxb. Khoa học Xã hội

        Năm xuất bản: 2020

        Số trang: 343 trang

        Mã số ISBN: 978-604-956-971-5

        Liên hệ: Thư viện Viện nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới

Tùng Linh

Tin mới
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com