Hội thảo khoa học quốc tế "Đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại"
ĐẠI THI HÀO DÂN TỘC, DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI
NGUYỄN DU: DI SẢN VÀ CÁC GIÁ TRỊ XUYÊN THỜI ĐẠI
Đó là chủ đề Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 250 năm Năm sinh Nguyễn Du do Viện Hàn lâm lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phối hợp tổ chức ngày 8 tháng 8 năm 2015 tại Hà Nội nhằm tôn vinh và phát huy những giá trị văn hóa xuyên thời đại mà Đại thi hào dân tộc đã để lại cho dân tộc ta và nhân dân thế giới. Hội thảo này là một trong những hoạt động hưởng ứng Nghị quyết 37C/15 kỳ họp 37 của UNESCO ở Pari ngày 25 tháng 10 năm 2013 nhằm kỷ niệm và tôn vinh 108 danh nhân văn hóa thế giới và Công văn 8467-CV/VPTW ngày 15 tháng 8 năm 2014 của TW Đảng về việc tổ chức Lễ kỷ niệm 250 năm Năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du. Hội thảo quốc tế kỷ niệm 250 năm Năm sinh Nguyễn Du “là sự kiện văn hóa tầm cỡ quốc gia, lan rộng ra quốc tế, có ý nghĩa chính trị - xã hội và văn hóa rất quan trọng”.
Tham dự và chủ trì Hội thảo có đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCS Việt Nam; Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên BCH TW ĐCS Việt Nam, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; đồng chí Võ Kim Cự, Ủy viên BCH TW ĐCS Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh. Tham dự Hội thảo còn có các đồng chí đại diện Quốc hội, các cơ quan Trung ương, các Bộ, Ngành, các cơ quan của tỉnh Hà Tĩnh, đại diện tỉnh Bắc Ninh, của xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, của các tổ chức, các trường Đại học, Học viện, các Viện Nghiên cứu trong cả nước, của các tổ chức Quốc tế và đại diện đại sứ quán nhiều nước như Lào, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Iran,… Tham dự Hội thảo có đông đảo các dịch giả, các nhà nghiên cứu và giảng dạy về Nguyễn Du ở các trường, Học viện, Viện nghiên cứu trong nước và ngoài nước, các nhà Nguyễn Du học, các nhà Kiều học ở các địa phương khác nhau. Hội trường Hội thảo tại phiên Khai mạc có khoảng trên 600 đại biểu.
Tổng số báo cáo khoa học gửi đến Hội thảo được in tóm tắt trong Kỷ yếu Hội thảo là 131 bài, trong đó có gần 20 báo cáo của các học giả nước ngoài. Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng khác nhau trên thế giới như các tiếng Pháp, Anh, Trung Quốc, Nga, Đức, Tây Ban Nha, Nhật, Lào, Thái, Ả rập, Tiệp khắc, Phần Lan, Thái Lan, Bun ga ri, Ru ma ni, Hàn Quốc, … Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện trên thế giới có hơn 30 bản dịch Truyện Kiều khác nhau với những thứ tiếng phổ cập nhất, ở hầu hết các nền văn hóa lớn của thế giới. Năm 2000, Tổng thỗng Mỹ Bill Clin tơn, khi sang thăm Việt Nam và tháng 7 năm nay, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden, khi tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đều đã dùng những câu thơ trong Truyện Kiều để thể hiện việc bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ. Di sản của Nguyễn Du không chỉ xuyên thời gian, thời đại mà còn xuyên không gian.
Sau phiên Khai mạc, Hội thảo chia thành 2 ban ở hai hội trường lớn. Ban thứ nhất: Cuộc đời, di sản của Nguyễn Du – nhìn từ trong và ngoài quốc gia; Ban thứ 2: Truyện Kiều - những phương thức diễn dịch, chuyển hoá. Các báo cáo và tham luận đã khẳng định Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ xuất chúng mà còn là nhà tư tưởng; trong ông không chỉ có tư tưởng Nho giáo mà có cả tư tưởng Phật giáo được khúc xạ qua tư duy và tâm hồn Việt, qua cốt cách cá nhân của ông; ông là nhà văn hóa lớn với những hiểu biết rộng và sâu sắc, các tác phẩm của ông thể hiện sâu sắc bản sắc văn hóa Việt. “Di sản văn hóa mà Nguyễn Du để lại cho hậu thế, nhất là Truyện Kiều, thể hiện sinh động chủ nghĩa nhân văn cao cả, lòng thương yêu con người, khát vọng giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bất công vươn tới tự do và thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, ngôn ngữ, thi ca và cốt cách văn hóa Việt Nam".
Với kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du “đã khẳng định được vị trí số một của mình trong nền văn học dân tộc Việt Nam và từng bước chiếm lĩnh văn đàn thế giới. Truyện Kiều có được sức sống mãnh liệt và khả năng lan tỏa sâu rộng bởi chính những giá trị tự thân của tác phẩm về nội dung nhân đạo và nghệ thuật sáng tạo thi ca bậc thầy của Nguyễn Du. Năng lượng câu thơ Truyện Kiều thật vô cùng vô tận. Càng đi sâu khám phá Truyện Kiều người ta càng phát hiện thêm những chiều kích văn hóa mới và càng thêm khâm phục, yêu mến Nguyễn Du. Trên tất cả, thi hào Nguyễn Du đã cất lên tiếng nói nhân văn cao cả về thân phận con người, niềm cảm thông sâu sắc với mọi kiếp chúng sinh thuộc mọi thời đại, ở khắp mọi chân trời góc biển: Trăm năm trong cõi người ta...”
Hai trăm năm qua “các tác phẩm của Nguyễn Du là di sản vô giá, đặc biệt là Truyện Kiều đã không ngừng lan tỏa và được khám phá trên nhiều phương diện khác nhau”. Truyện Kiều đã thấm sâu vào máu thịt của nhiều thế hệ, từ tầng lớp trí thức dân tộc đến những người lao động ở các vùng miền khác nhau, các lứa tuổi khác nhau. “Sáng tạo của Nguyễn Du là sáng tạo gắn liền với sự chiêm nghiệm sâu sắc về đời sống, về những số phận, những kiếp người. Nguyễn Du khóc thương cho những thân phận khổ đau, đặc biệt là số phận của người phụ nữ, lên án bất công xã hội, ước mơ giải phóng con người... Đó không phải là sự thương vay, khóc mướn của người ngoài cuộc mà là sự cảm thông đứt ruột của một thi nhân, một con người bị quăng quật, giằng xé bởi những “đoạn trường” thời thế, gia thế và số phận mình. Vì vậy, nhiều câu thơ của Nguyễn Du là sự khái quát thành những triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc đời, về con người, số phận con người, về những cảnh huống của đời người. Đó không phải là những vấn đề của một thời mà của nhiều thời. Đó không phải là những vấn đề của một quốc gia, một cộng đồng, một con người mà là của toàn nhân loại. Thêm nữa, và đây là điều rất quan trọng: Nguyễn Du đề cao cái Thiện, coi cái Thiện là gốc rễ của văn hóa “Thiện căn bởi tại lòng ta”, đó là mẫu số chung lớn để tác phẩm của ông vượt qua mọi giới hạn của ngôn ngữ, bắt gặp sự chia sẻ, đồng điệu của mọi người. Tất cả đều xuất phát từ gốc rễ bền sâu của chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du.
Nghiên cứu Con người dù trong giai đoạn nào của lịch sử thì hình tượng, tư tưởng về Con người trong các tác phầm của Nguyễn Du và chính cuộc đời, sự nghiệp của ông là một địa chỉ mà các nhà nghiên cứu Con người không thể bỏ qua, là một kho dữ liệu quan trọng cần được khai thác và nghiên cứu kỹ hơn./.
LƯƠNG HẢI