Khái niệm Châu Á Hóa của Koichi Iwabuchi

Thuật ngữ “Châu Á hóa” được sử dụng lần đầu tiên bởi Koichi Iwabuchi năm 2002, và các thuật ngữ khác như “giá trị Châu Á” và “cảm xúc của người Châu Á” cũng được giới thiệu bởi Chua sau đó vào năm 2004 như một cách để các quốc gia Châu Á mới nổi chống lại bá quyền văn hóa phương Tây. Thêm vào đó, Châu Á hóa thể hiện dòng chảy mới của sản phẩm văn hóa khu vực Đông Á. Sự phát triển của dòng dày mới này bắt đầu từ những năm 1990 đã dần chuyển hướng và định hình một sự toàn cầu hóa kiểu mới. Sau cuộc khủng khoảng kinh tế Châu Á năm 1997, thế giới đã chứng kiến sự phục hồi thần kỳ về kinh tế tại các quốc gia này và kể từ đó, sự xuất hiện của Châu Á hóa với các cuộc diễn ngôn chính xoay quanh không phải là về những giá trị Châu Á truyền thống mà về một nền văn hóa đại chúng tư bản.

Đầu tiên, thuật ngữ Châu Á hóa thể hiện một dòng chảy mới của các sản phẩm văn hóa từ các nước Đông Á lan vào các quốc gia Đông Nam Á, dòng chảy nảy được diễn ra sau khi diễn ra dòng chảy văn hóa từ các nước phương Tây. Như tác giả Iwabuchi đã chỉ ra, dòng chảy mới xuyên quốc gia về văn hóa này đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 1990 (2002) bắt đầu với sự lan tỏa mạnh mẽ của âm nhạc J-Pop (Japan Pop-Nhạc pop Nhật Bản). Sự ảnh hưởng của dòng chảy này (cả cũ và mới) đã dẫn tới một ma trận tương tác của các quốc gia trong khu vực và toàn cầu (Siriyuvasak, 2008). Cả hai dòng chảy này cũng có những ảnh hưởng khác nhau với tất cả mọi người trên toàn thế giới, các sản phẩm truyền thông ngày nay ngày càng xích lại gần nhau hơn, làm cho chúng khó bị phân biệt được đâu là nguồn gốc thực sự của chúng (Siriyuvasak, 2008).

Thứ hai là, thuật ngữ Châu Á hóa được sử dụng như một phương tiện chống lại các quốc gia bá quyền Châu Âu. Mỹ (Iwabuchi, 2002). Tác giả nhìn quá trình Châu Á hóa này như một sự chuyển dịch của sự toàn cầu hóa về văn hóa của văn hóa đại chúng từ Mỹ sang các quốc gia Châu Á khác (Iwabuchi, 2004). Ông cho rằng dòng chảy văn hóa đại chúng Nhật Bản là một trong những động lực chính ở Châu Á, như quốc gia này đã có khả năng chống lại bá quyền Tây Âu trong khi vào cùng thời gian này, họ đã tạo ra một hình ảnh mới của “các giá trị Châu Á hiện đại” đối với giới trẻ. Những loại hình về hình tượng văn hóa này có thể được coi là “thật” hay “tưởng tượng (thông qua hình ảnh)”, phụ thuộc vào những kinh nghiệm của từng quốc gia và mức độ phát triển kinh tế của từng quốc gia (Siriyuvasak, 2008).

Cuối cùng thì, Châu Á hóa cũng là một phương tiện mà các quá trình văn hóa quốc gia và các yếu tố bản địa của mỗi quốc gia Châu Á có thể được thể hiện tốt qua những quá trình văn hóa xuyên quốc gia. Iwabuchi tranh luận rằng lý do cho nền văn hóa ngoại lại như âm nhạc đại chúng Nhật Bản trở nên được yêu thích tại các quốc gia Châu Á và Đông Nam Á là bởi vì nó mang lại cho họ cảm nhận về sự chia sẻ thời gian và cuộc sống đương đại, nơi họ có cùng chung cảm xúc và trải nghiệm của những quốc gia Châu Á  hiện đại (mới nổi), điều mà văn hóa đại chúng của Mỹ không thể thể hiện được (Iwabuchi, 2002). Tuy nhiên, văn hóa đại chúng Nhật Bản có thể không phải là điểm đến cuối cùng của những luồng văn hóa Châu Á này cũng như các quốc gia Châu Á mới nổi khác, họ cũng đang hội nhập vào thị trường toàn cầu về mọi phương diện kinh tế, chính trị và văn hóa. Đi theo khái niệm này, Siriyuvasak đã tranh luận về quá trình Châu Á hóa. Theo đó quá trình này có một mối liên quan mật thiết tới sự phát triển của sự đô thị hóa tại địa phương hay văn hóa tiêu thụ của giới trẻ tại các đô thị (xuyên quốc gia) tại Châu Á (2008).

Trong khái niệm về “sự hiện đại” và “sự phản ánh” (1990) của Anthony Ginddens đã đề xuất năm 1990, ông cho rằng sự phản ánh thể hiện nhận thức của một người và để họ trả lời các câu hỏi: họ là ai, họ làm cái gì và họ làm như thế nào trong cuộc sống hàng này. Mục đích của tranh luận về sự tự nhận thức là để hiểu về bản sắc của riêng họ. Điều này có thể giải thích rằng họ bị ảnh hưởng bởi sự hiện đại bên môi trường ngoài xã hội và thế giới, tưởng tượng về chúng nhằm phản ảnh họ là ai và họ muốn trở thành người như thế nào và cái họ tiêu thụ phản ánh điều gì đó về việc họ là ai. Tương tự, trong khi Appadurai (1996) cũng đề xuất về sự lựa chọn (tiêu thụ) đóng vai trò như là cách để định nghĩa về bản sắc, rõ ràng là những lựa chọn này cũng đã bị các cơ chế thương mại ví dụ như makerting lấn át sự tự hình thành về bản sắc.

Trong tác phẩm của mình năm 2002, Iwabuchi đã sử dụng thuật ngữ “sự phản ánh” trong sự tiêu thụ về truyền thông để nhận định rằng tiêu thụ cũng là một cách thức sản xuất. Thông qua việc tiêu thụ, những người tiêu dùng trẻ tuổi đã tái sản xuất ra những đặc tính mới (bản sắc) để thể hiện rằng họ muốn trở thành người như thế nào. Phân tích của ông về sự tiêu thụ văn hóa đại chúng Nhật Bản ở các khán giả Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore thể hiện rằng họ cũng muốn là một phần của Châu Á. Xu hướng  này đã được chuyển hướng sang văn hóa đại chúng Hàn Quốc, phản ánh sự thành công của nền kinh tế hậu hiện đại. Quốc gia như Hàn Quốc là một ví dụ điển hình về một quốc gia có nền công nghiệp phát triển tại Châu Á đồng thời các sản phẩm văn hóa đại chúng của họ cũng đã được lai tạo từ các quốc gia khác nhau để tạo nên một sản phẩm mới cho Hàn Quốc (Kim, 2012).

Phan Thanh Thanh (tổng thuật và phân tích)

Tài liệu tham khảo

Appadurai, A.1996          Modernity at Large: Cultural Dimensions of Globalization. Minneapolis: Univ. of Minnesota Press.

Iwabuchi, K. 2002 Recentering Globalization: Popular Culture and JapaneseTransnationalism. Durham: Duke University Press.

Kim, D.  2012        “Reappropriating Desires in Neoliberal Societies through K-Pop”. M.A. thesis, University of California, Los Angeles.

Siriyuvasak, U.   2008      “Consuming and producing post modernity: youth and popular culture in Thailand”, in Youna Kim (ed.) Media Consumption and Everyday life in Asia. New York: Routledge

 

image advertisement
image advertisement
image advertisement
Tin mới
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com