Những Vấn đề mới trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar
Giới thiệu
Thông qua khuôn khổ pháp lý của bản kế hoạch cộng đồng chung Đông Nam Á (AEC blue print), bản kế hoạch hành động cho khu vực nông nghiệp của Ngân hàng thế giới, và các chương trình hỗ trợ phát triển nông nghiệp của Ngân hàng phát triển Châu Á giai đoạn 2, bài viết này sẽ tổng hợp những vấn đề ưu tiên trong các chương trình viện trợ của các tổ chức quốc tế cho vấn đề nông nghiệp và phát triển nông thôn tại một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á cụ thể bao gồm: Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar. Theo đó, có 3 vấn đề ưu tiên được tập trung đầu tư đó là: (1) Xây dựng hệ thống chuẩn hóa an toàn thực phẩm; (2) Tăng cường hệ thống nông nghiệp thân thiện với môi trường và (3) Thúc đẩy ngành nông nghiệp thành một ngành đi đầu trong việc cung ứng nguồn năng lượng tái tạo nông thôn.
Vấn đề chuẩn hóa an toàn thực phẩm
Các nước trong khu vực Đông Nam Á đang hướng tới một nền kinh tế cộng đồng chung ASEAN (viết tắt là AEC), theo đó các thị trường và hàng hóa trong khu vực này, đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp sẽ được tự do trao đổi buôn bán. Điều này đặt ra vấn đề chuẩn hóa một tiêu chuẩn chung cho thị trường AEC. Để chuẩn hóa các tiêu chuẩn và chất lượng trước khi bước vào cộng đồng kinh tế chung, các sản phẩm nông nghiệp phải tuân thủ theo các quy trình sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm và được cấp phép. Điều này sẽ làm các sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường và đảm bảo về mặt chất lượng, thúc đẩy xuất khẩu ra các khu vực khác. Các tiêu chuẩn trong việc chuẩn hóa hệ thống an toàn thực phẩm cụ thể như sau: thực hành nông nghiệp tốt đối với các loại cây, rau, quả (viết tắt là GAP), thực hành nuôi trồng thủy hải sản tốt (GAqP), thực hành chăn nuôi tốt (GAHP), thực hành vệ sinh tốt (GHP), thực hành sản tốt sản xuất (GMP), và phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn dựa vào hệ thống (HACCP) (Briones, R. M., & Israel, D. C., 2012).
Để chuẩn hóa việc thực hành và nâng cao tiêu chuẩn hệ thống an toàn thực phẩm tại các nước trong khu vực cụ thể là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanamar, cần thiết phải tăng cường sự tham gia trong việc thực hành, thảo luận và tư vấn về vấn đề này từ phía các bên liên quan như quan chức chính phủ, nhà sản xuất, nhà phân phối cho đến người tiêu dùng. Thông qua các cuộc hội thảo và tập huấn, các thông tin về an toàn thực phẩm sẽ được phổ biến và nhận được sự đồng thuận từ các bên liên quan.
Để thực hiện việc chuẩn hóa về an toàn thực phẩm, có các bước cần thực hiện như sau: tăng cường liên kết các doanh nghiệp nông thôn tới thị trường trong khu vực và trên thế giới bằng việc phân phối các sản phẩm nông nghiệp thông qua hội trợ thương mại khu vực ASEAN và đồng thời cũng tạo ra mạng lưới các nhà sản xuất sản phẩm nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á nói chung và Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam nói riêng.
Việc thực hành nông nghiệp tốt và công nghệ sau thu hoạch sẽ ít nhiều có liên quan đến vấn đề an toàn thực phẩm. Các hoạt động cần thực hiện nhằm xúc tiến mục tiêu này bao gồm: tổ chức tập huấn, hội thảo, đồng thời công tác nghiên cứu cũng cần triển khai nhiều hơn. Vấn đề an toàn thực phẩm không chỉ có tầm quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp mà còn có ý nghĩa về mặt sức khỏe cộng đồng, an ninh lương thực và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp ở từng quốc qua.
Vấn đề sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường
Nông nghiệp thân thiện với môi trường có nghĩa là không làm tổn hại tới môi trường và chống chịu, thích ứng được với sự biến đổi của thời tiết. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng nước, tiêu thụ năng lượng và khí thải trong nông nghiệp có liên hệ mật thiết với nhau. Điều này đặt ra vấn đề giảm thiểu nguồn nước sử dụng, sự tiêu thụ năng lượng và khí thải nhằm giảm thiểu tác động xấu của nông nghiệp tới môi trường (Jackson, T. M., Hanjra, M. A., Khan, S., & Hafeez, M. M., 2011). Do thời tiết thay đổi, mùa khô kéo dài gây ra tình trạng mất nước mặt và tăng nhu cầu đất ngầm cho nông nghiệp (Lofman et al, 2002). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng tràn lan hóa chất trong nông nghiệp đã tạo ra nhiều tổn hại cho môi trường đồng thời cũng làm giảm thiểu chất lượng thực phẩm và nguồn nước (Harris, 2002). Những điều này cho thấy tầm quan trọng của những nỗ lực thúc đẩy quá trình cũng như sáng kiến sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường ở cấp địa phương và khu vực.
Các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa ngành nông nghiệp thân thiện với môi trường cụ thể như ngành sản xuất gạo, nuôi trồng thủy hải sản và chăn nuôi gia cầm nhằm bảo vệ môi trường và giảm thiểu rủi do biến đổi khí hậu. Do vậy, việc hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao, cải tiến kỹ thuật nông nghiệp là một vấn đề sống còn. Đồng thời việc nâng cao sự hiểu biết của nông dân và các hộ sản xuất nông nghiệp quy mô vừa và nhỏ là đặc biệt quan trọng. Điều này khiến nông dân có thể đạt được quá trình chuẩn hóa mà tiêu chuẩn quốc tế và khu vực đề ra như việc thực hành nông nghiệp tốt cho rau quả, thủy hải sản… (GAP, GAqP). Đây là một trong những tiền đề cho việc phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Các chính phủ cũng cần tạo điều kiện để mọi ngành nghề và các bên liên quan đều có thể tham gia vào các mô hình nông nghiệp thân thiện với môi trường, đặc biệt là khu vực tư nhân (như là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cộng đồng làm nông nghiệp tại địa phương). Điều này thúc đẩy nhiều hơn nữa những sáng kiến và giải pháp từ phía cộng đồng cho nền sản xuất nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường. Các doanh nghiệp tư nhân, các tập đoàn quốc tế sẽ đóng một vai trò chủ chốt trong việc đầu tư vào các chương trình, dự án bền vững này.
Đối với vấn đề sản xuất năng lượng tái tạo sạch tại nông thôn
Năng lượng tái tạo bao gồm năng lượng mặt trời (cần phải sản xuất trên quy mô lớn, cần đầu tư lớn), biomass và biogas (từ chất thải động vật hoặc chất thải), bio-fuels (nhiên liệu sinh học từ các loại cây trồng), thủy điện, năng lượng gió, địa nhiệt. Năng lượng tái tạo sạch tại nông thôn bao gồm biomass, biogas, biofuels.
Các chính phủ cần phải đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng trong việc truyền bá các thông tin về năng lượng sạch tại cộng đồng nông thôn, giúp cho họ tăng cường năng lực đồng thời tận dụng được nguồn tri thức bản địa quý giá trong việc sản xuất năng lượng sạch tái tạo.
Các chính phủ cũng cần phải xây dựng năng lực cho các doanh nghiệp năng lượng tại nông thôn và cộng đồng nông thôn về cách quản lý năng lượng nhằm suy trì mô hình sản xuất và tiêu dùng nguồn năng lượng tái tạo và phổ biến các mô hình hiệu quả, thành công tới những cộng đồng địa phương lân cận. Cần nhớ rằng mối liên hệ giữa các doanh nghiệp năng lượng khu vực nông thôn và các nguồn vốn và kinh doanh là rất rõ ràng để duy trì hệ thống này.
Kết luận
Có 3 vấn đề chính về nông nghiệp và phát triển nông thôn đã được đề ra. Tuy nhiên, còn có nhiều vấn đề cụ thể khác mà khuôn khổ bài viết chưa đề cập tới. Ví dụ như nhiều vấn đề mới nổi cộm như kiểm soát thuốc trừ sâu trong phòng trừ sâu bệnh, vấn đề quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, vấn đề giới trong quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và sản xuất nông nghiệp, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến dựa vào nền sản xuất nông nghiệp vừa và nhỏ, các chính sách nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị và thị trường nông nghiệp…
Phan Thanh Thanh (tổng thuật)
Tài liệu tham khảo
Anonymous. (2008). Asean Economic Community Blueprint. Singapore Year Book of International Law, 12, 297.
Asian Development Bank (2011). Core Agriculture Support Program Phase II 2011–2015 GMS Working Group on Agriculture
Briones, R. M., & Israel, D. C. (2012). The ASEAN Economic Community Blueprint : Implementation and Effectiveness Assessment for Philippine Agriculture, XXXIX(71).
World Bank (2009). Implementing Agriculture for Development. World Bank Group Agriculture Action Plan: 2010-2012.
World Bank (2013). World Bank Group Agriculture Action Plan: 2013-2015