

Thúc đẩy bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những mục tiêu quan trọng trong tiến trình phát triển bền vững của quốc gia
và
hành trình thu hẹp khoảng cách giới tại các khu vực này
luôn
đối mặt với không ít rào cản về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, tập quán và nguồn lực… Nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện, mang tính hệ thống từ lý luận đến thực tiễn
về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số,
năm 2020,
Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (nay là Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới) đã ra mắt cuốn chuyên khảo
“Thực hiện bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam”
do GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa đồng chủ biên. Với cấu trúc gồm 9 chương,
cuốn sách chuyên khảo
đã
có những
phân tích sâu sắc
về
thực trạng bình đẳng giới (BĐG) trên các lĩnh vực then chốt từ chính trị, kinh tế, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cho đến đời sống gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số
(DTTS).
Mở đầu cuốn chuyên khảo, ở
Chương 1: Một số vấn đề về cơ sở lý luận nghiên cứu bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam,
các tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ
bản
về BĐG, các cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu, từ đó chỉ ra các yếu tố tác động đến BĐG từ cấp độ cá nhân, gia đình đến cộng đồng, xã hội
cũng như
xây dựng các chỉ báo đánh giá BĐG ở vùng DTTS Việt Nam. Đồng thời,
tại
Chương 2: Thực trạng và hiệu quả thực hiện chính sách về
bình đẳng giới ở vùng
dân tộc thiểu số hiện nay,
thông
qua việc
hệ
thống hoá
các
văn bản pháp luật và
chính sách về
BĐG
đối với
vùng DTTS, các tác giả đã
phân tích hiệu quả và tác động của các chính sách BĐG đó đến đồng bào DTTS,
giúp
người đọc hiểu rõ hơn về thực trạng BĐG ở các chương sau.
Từ Chương 3 đến Chương 6, cuốn sách đã phác hoạ bức tranh đa chiều về thực trạng BĐG ở vùng DTTS qua 4
lĩnh vực
quan trọng là
chính trị, giáo dục, lao động và y tế, cụ thể như sau:
Chương
3: Bình đẳng giới
trong chính trị ở vùng
dân tộc thiểu số.
Chương này, các tác giả đã
đi sâu phân tích và làm rõ
nhận thức, quan
niệm
của cán
bộ và người dân
về năng
lực lãnh đạo và tham gia hoạt động quản lý của nam giới và phụ nữ; hiểu biết về quyền tham gia của phụ nữ vào các công việc của cộng đồng và quyền tự ứng cử của phụ nữ; thực trạng tham gia của nam giới và nữ giới người DTTS vào lĩnh vực chính trị; các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và vai trò lãnh đạo của nam giới và nữ giới
; rà
soát
quá
trình triển khai thực hiện
chính sách
pháp
luật về BĐG trong chính trị ở các địa phương; từ đó, nhận diện một số vấn đề giới trong chính trị ở vùng DTTS cần quan tâm.
Chương
4: Bình đẳng giới
trong lĩnh vực giáo dục ở một số
dân tộc thiểu số. Chương này phân tích mức độ bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục giữa nam giới và nữ giới, giữa trẻ em trai và trẻ em gái ở một số nhóm DTTS thông qua các khía cạnh: trình độ học vấn cao nhất đạt được, tình trạng mù chữ, tái mù chữ và tiếp cận giáo dục của trẻ em; làm rõ
các yếu tố ảnh hưởng
đến sự bình đẳng giới trong lĩnh vực này, cũng như những tác động tích cực và bất cập cần được giải quyết trong các
chính sách
về giáo dục, đặc biệt từ năm 2010 đến nay.
Chương
5: Bình đẳng giới
ở vùng
dân tộc thiểu số
trong lĩnh vực lao động, việc làm.
Chương này đã thực hiện
so
sánh các khía cạnh về thu nhập, nghề nghiệp, khu vực làm việc và đào tạo nghề giữa nam giới và nữ giới người DTTS để làm rõ mức độ BĐG trong lĩnh vực này; đồng thời đánh giá việc triển khai các chính sách liên quan đến BĐG về lao động, việc làm qua ý kiến của đội ngũ cán bộ cấp huyện, xã và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các quy định của luật pháp, chính sách BĐG về lao động, việc làm ở vùng DTTS.
Chương
6: Bình đẳng giới trong lĩnh vực y
tế và chăm sóc sức khoẻ.
Chương này t
ập trung vào thực trạng
về sức khoẻ của người DTTS, đặc biệt là
thực
trạng
chăm sóc sức khoẻ sinh sản
và
tiêm chủng cho trẻ nhỏ
. Các tác giả cũng đề cập đến các chính sách y tế cho người DTTS và chỉ ra những khoảng cách còn tồn tại trong việc
tiếp cận các dịch vụ y tế giữa
nam giới và nữ giới, giữa các dân tộc ở vùng cao và các dân tộc ở vùng thung lũng, đồng bằng.
Chương 7: Phân công lao động theo giới trong gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
đã phản ánh chi tiết sự
khác biệt trong
quan
niệm và thực hành
phân công công
việc trong gia đình giữa nam và nữ ở các nhóm xã hội.
Chương 8: Quyền quyết định giữa vợ và chồng trong một
số
hoạt động mua sắm
của
gia đình dân tộc Chăm
(Ninh Thuận)
và Dao
(Lạng Sơn).
So sánh sự
khác biệt
trong
mô hình quyền quyết định hoạt động mua sắm của gia đình giữa hai nhóm dân tộc
đã làm nổi bật
vai trò
quan trọng của yếu tố văn hoá, đặc trưng văn hoá của dân tộc đối với quan hệ giới.
Chương 9: Bạo lực gia đình ở vùng
dân tộc thiểu số.
Nội dung
chương này
đã
đề cập trực diện
đến
thực trạng bạo lực gia đình ở vùng DTTS, từ bạo lực thể xác, tinh thần đến bạo lực kinh tế
, bạo lực của chồng đối với vợ, bạo lực của vợ đối với chồng, nguyên nhân bạo lực và cách thức giải quyết bạo lực. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đ
ề
cập đến các chính sách, pháp luật phòng chống bạo lực gia đình và phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai chính sách.
Dù
đã
được xuất bản từ năm 2020
nhưng
cuốn sách “Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam” đến nay vẫn
giữ
nguyên tính thời sự, đồng thời tiếp tục cung cấp những định hướng có ý nghĩa đối với hoạt động
nghiên cứu cũng như thực tiễn triển khai các chính sách về bình đẳng giới
ở vùng dân tộc thiểu số.
Đây là số ít các công trình chuyên khảo hiếm hoi
ở
Việt Nam
nghiên cứu
một cách hệ thống về vấn đề
bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Không chỉ
góp phần
bổ sung những thông tin hữu ích vào kho tàng tri thức hiện có, cuốn sách còn
là tài liệu tham khảo
hữu ích
cho các nhà khoa học, các học viên, sinh viên ngành khoa học xã hội
,
đội ngũ
cán bộ làm
công tác dân
tộc,
bình đẳng giới và
những người quan tâm.
Thông tin xuất bản:
Tên sách:
Thực hiện Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam
Chủ biên:
GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa
Nơi xuất bản:
Nxb. Khoa học Xã hội
Năm xuất bản:
2020
Số trang:
343 trang
Mã số ISBN:
978-604-956-971-5
Liên hệ:
Thư viện Viện nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Tùng Linh