Tọa đàm khoa học: “Quyền tiếp cận nguồn nước nhằm đảm bảo sinh kế tại An Giang”
Trong khuôn khổ thực hiện kế hoạch khoa học năm 2025 của Nhiệm vụ cấp bộ “Quyền tiếp cận nguồn nước nhằm đảm bảo sinh kế của người dân nông thôn tại An Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu” do TS. Phan Thanh Thanh làm chủ nhiệm, ngày 26/6/2025, nhiệm vụ đã tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Quyền tiếp cận nguồn nước nhằm đảm bảo sinh kế tại An Giang”.
Toạ đàm có sự tham dự của các thành viên nhiêm vụ, các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Đại Học An Giang và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. TS. Nguyễn Đình Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì Toạ đàm.

TS. Nguyễn Đình Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì Toạ đàm
Phát biểu khai mạc Toạ đàm, TS. Nguyễn Đình Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, cơ quan chủ trì nhiệm vụ cho biết, theo Bình luận chung số 15, quyền về nước bao gồm các quyền về sử dụng nước cho cá nhân, gia đình và để sản xuất lương thực… đảm bảo an ninh sinh kế. Như vậy, quyền tiếp cận nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, v.v.. Ở Việt Nam quyền con người nói chung và quyền tiếp cận nguồn nước nói riêng đã được khẳng định trong Hiến pháp và nhiều văn bản luật.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay tiếp cận nguồn nước đang đặt ra nhiều thách thức trong phát triển nói chung và trong sinh kế của người dân nói riêng. Do đó, đây là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu. Việc nghiên cứu quyền tiếp cận nguồn nước theo hướng liên ngành cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới. Mục đích của buổi toạ đàm này là (1) chia sẻ các kết quả nghiên cứu bước đầu của nhiệm vụ; (2) giới thiệu khung phân tích của nhiệm vụ, bao gồm các chiều cạnh đánh giá; (3) trình bày các tiêu chí chọn mẫu và bộ công cụ thu thập số liệu.
Tại cuộc Toạ đàm, ba báo cáo nghiên cứu đã được trình bày:
1- TS. Phan Thanh Thanh, chủ nhiệm nhiệm vụ trình bày báo cáo “Khung phân tích quyền tiếp cận nguồn nước bảo đảm sinh kế bền vững của người dân nông thôn: Một số vấn đề lý luận”

TS. Phan Thanh Thanh, Chủ nhiệm nhiệm vụ trình bày báo cáo
Báo cáo giới thiệu quyền tiếp cận nguồn nước của quốc tế và Việt Nam. Các cam kết quốc tế công nhận nguồn nước không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt mà còn phục vụ sản xuất lương thực, là điều kiện cơ bản cho sinh kế nông thôn và cần được phân phối công bằng, không gây thiệt hại cho nhóm yếu thế. Quyền tiếp cận nguồn nước được thể hiện ở 3 yếu tố: tính sẵn có, chất lượng và khả năng tiếp cận.
Quyền tiếp cận nguồn nước đã được ghi nhận trong hệ thống Pháp luật Việt Nam như: (1) Luật Tài nguyên nước (2012, 2023): quy định rõ quyền và chính sách tiếp cận nguồn nước. (2) Luật Thủy lợi (2017): đảm bảo quyền lợi hợp pháp và sự tham gia của người dân. (3) Luật Bảo vệ môi trường (2014): tiếp cận nguồn nước là quyền môi trường cơ bản của người dân. Bài trình bày giới thiệu về khung sinh kế bền vững được khởi xướng bởi Scoones năm 1998, và được Grey Gardner năm 2008 phát triển thành khung sinh kế bền vững trong quản lý nguồn nước. Đây cũng là khung phân tích được nhiệm vụ áp dụng đánh giá quyền tiếp cận nguồn nước đảm bảo sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
2- TS. Thái Huỳnh Phương Lan trình bày báo cáo “Lồng ghép giới trong các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn: Nghiên cứu điển hình ở huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam”

TS. Thái Huỳnh Phương Lan, Đại học An Giang trình bày báo cáo trên kênh trực tuyến
Báo cáo cho thấy, có sự phân công lao động theo giới trong sản xuất ở địa bàn nghiên cứu:
- Phụ nữ và nam giới cùng tham gia sản xuất nông nghiệp, nhưng nam giới được coi là lao động chính trong khi phụ nữ chỉ là người hỗ trợ; phụ nữ thường được giao những công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, tốn nhiều thời gian và sự cẩn thận; nam giới đảm nhiệm những công việc nặng nhọc hơn và có yếu tố kỹ thuật.
- Bình đẳng giới được lồng ghép vào một số nghị định cấp quốc gia và cấp bộ; nhưng ở cấp địa phương bình đẳng giới chưa được lồng ghép vào các kế hoạch hành động. Bình đẳng giới có xu hướng được lồng ghép tốt hơn trong các dự án phát triển nông nghiệp quốc tế, khi tiêu chí giới được đưa vào.
- Hành động hướng tới bình đẳng giới được coi là hoạt động riêng biệt của Hội Liên hiệp Phụ nữ. Tại địa bàn nghiên cứu, các khóa đào tạo nông nghiệp thường không nhạy cảm về giới và bình đẳng giới.
- Có sự khác biệt giữa phụ nữ Kinh và Khmer trong việc tham gia các khóa đào tạo hoặc hội thảo về sản xuất nông nghiệp do sự khác biệt về chuẩn mực giới giữa các nhóm dân tộc.
- Phụ nữ thường có năng lực chống chịu kém hơn và chịu nhiều rủi ro hơn khi thiên tai xảy ra ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
3- Chuyên viên Lê Văn Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trình bày báo cáo “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong nghiên cứu và giải quyết vấn đề an ninh nguồn nước tại An Giang hiện nay”

Chuyên viên Lê Văn Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trình bày báo cáo
Báo cáo cho biết, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị đã xác định rõ: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của chế độ; là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân”; đồng thời yêu cầu toàn hệ thống chính trị phải chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến khoa học, công nghệ, môi trường và đời sống xã hội.
Trong phạm vi tỉnh An Giang, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với vấn đề an ninh nguồn nước và quyền tiếp cận nước sạch không chỉ là đối phó với các luận điệu phản động, mà còn là sự khẳng định bản lĩnh và năng lực cầm quyền của Đảng bộ địa phương trong quản lý tài nguyên, điều hành phát triển bền vững, bảo đảm công bằng xã hội và thực thi hiệu quả quyền con người.
Báo cáo cũng chỉ ra những điểm cốt lõi trong vấn đề an ninh nguồn nước:
Thứ nhất, quyền tiếp cận nước sạch là một quyền cơ bản của con người, được pháp luật quốc tế và Hiến pháp Việt Nam thừa nhận, và là biểu hiện trực tiếp của tính chính danh của Đảng cầm quyền trong bảo đảm phúc lợi nhân dân.
Thứ hai, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thách thức xuyên biên giới về tài nguyên nước, việc bảo đảm an ninh nguồn nước không thể tách rời khỏi nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - nhất là trong phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng.
Thứ ba, thực tiễn An Giang đã cho thấy, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì phải chăm lo thiết thực đến đời sống nhân dân, nhất là người nghèo, người vùng sâu, vùng xa - bằng những chính sách, công trình, chương trình cụ thể về nước sạch, thích ứng biến đổi khí hậu và giám sát nguồn nước.
Thứ tư, cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng - lý luận của Đảng với khoa học quản lý tài nguyên - môi trường, từ đó tạo ra thế trận tổng hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ bằng lý lẽ, mà bằng thành quả thiết thực, kiểm chứng được bằng đời sống.
Tại cuộc toạ đàm, thay mặt nhóm nhóm nghiên cứu, TS. Phan Thanh Thanh, chủ nhiệm nhiệm vụ giới thiệu bộ công cụ nghiên cứu bao gồm: (1) hướng dẫn phỏng vấn sâu bán cấu trúc cho cán bộ địa phương; (2) hướng dẫn phỏng vấn sâu bán cấu trúc cho đại diện đơn vị cung cấp nước sản xuất nông nghiệp; (3) hướng dẫn phỏng vấn sâu bán cấu trúc; và, hướng dẫn thảo luận nhóm tập trung cho người dân để lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học.
Tại tọa đàm nhiều đại biểu đánh giá cao các kết quả bước đầu của nhóm nghiên cứu và có những ý kiến đóng góp để hoàn thiện bộ công cụ.

Đại biểu phát biểu đóng góp ý kiến
Phát biểu tổng kết tọa đàm, TS. Nguyễn Đình Tuấn ghi nhận những kết quả bước đầu nhiệm vụ thực hiện, đồng thời yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học để hoàn thiện bộ công cụ khảo sát./.
Nguyễn Đức Tuyến