Hội thảo khoa học "Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế gia đình của người dân tộc Dao và dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Lạng Sơn”
Ngày 29 tháng 09 năm 2026, tại Hội trường Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đã diễn ra Hội thảo “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế gia đình của người dân tộc Dao và dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn (nay là Thái Nguyên) và tỉnh Lạng Sơn”. Hội thảo nằm trong kế hoạch thực hiện của Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin của người dân các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bắc Kạn (nay là Thái Nguyên) và tỉnh Lạng Sơn trong phát triển kinh tế gia đình” do TS. Trần Thị Thanh Loan làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (Viện) là đơn vị chủ trì.

Mục đích của Hội thảo nhằm chia sẻ kết  quả nghiên cứu và lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học. TS. Trần Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì Hội thảo. Hội thảo có sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học đại diện Hội Xã hội học, Học viện Phụ nữ Việt Nam và các nhà khoa học của Viện.

Mở đầu Hội thảo, TS. Trần Thị Thanh Loan trình bày thông tin khái quát về Nhiệm vụ và những kết quả phân tích ban đầu thông qua tham luận “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin của người dân các dân tộc thiểu số tại Bắc Kạn (nay là Thái Nguyên) và Lạng Sơn trong phát triển kinh tế gia đình”. Kết quả cho thấy người dân nhận thức được vai trò quan trọng của công nghệ thông tin (CNTT) trong làm ăn kinh tế. Họ sử dụng chủ yếu để tra cứu thông tin, kết nối thị trường, chăm sóc khách hàng và thực hiện giao dịch, thanh toán số. Thực tế này cho thấy tiềm năng thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong phát triển kinh tế gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) .

Picture 5

TS. Trần Thị Thanh Loan trình bày tham luận tại Hội thảo

ThS. Phan Huyền Dân trình bày tham luận “Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số”. Tham luận nhấn mạnh sự chuyển dịch trong quan điểm chỉ đạo, xây dựng chính sách của Đảng và nhà nước với vùng DTTS, từ hỗ trợ bù đắp sang hỗ trợ phát huy nội lực, từ “cho không, ngắn hạn” sang “hỗ trợ có điều kiện và chiến lược 10 năm”, có sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững quốc phòng, an ninh. Vì vậy, vùng DTTS và miền núi cần được nhìn nhận là không gian có tiềm năng hình thành những mô hình kinh tế số đặc thù dựa trên tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, tri thức bản địa và sản phẩm đặc trưng.

ThS. Hà Thị Minh Khương trình bày tham luận “Những thuận lợi, khó khăn và hiệu quả của việc sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động kinh tế gia đình của người dân tộc Tày và người dân tộc Dao”. Bài tham luận làm rõ những thuận lợi nổi bật bao gồm sự phổ cập của các thiết bị số, khả năng tiếp cận Internet, tính dễ sử dụng của ứng dụng CNTT và sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng. Bên cạnh đó, khó khăn chủ yếu liên quan đến kỹ năng kinh doanh trực tuyến, kỹ năng sử dụng thiết bị số, bảo mật thông tin và khả năng khai thác hiệu quả các nền tảng số. Về hiệu quả, n gười dân đánh giá CNTT giúp tăng cường kết nối khách hàng, tiết kiệm thời gian và chi phí, quảng bá sản phẩm, tiếp cận thông tin thị trường và góp phần cải thiện thu nhập gia đình.

TS. Trần Thị Hồng trình bày tham luận “Sử dụng ứng dụng số cho phát triển kinh tế hộ gia đình của người dân dân tộc Tày và Dao ở miền núi phía Bắc Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng đa ứng dụng mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt giúp gia tăng thu nhập hộ gia đình. Tuổi cao là rào cản lớn nhất khi khả năng sử dụng ứng dụng CNTT của nhóm trên 46 tuổi hạn chế hơn so với nhóm 20–35 tuổi. Đáng chú ý, khi đã vượt qua rào cản tiếp cận thiết bị và internet, yếu tố giới tính không có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sử dụng ứng dụng, tuy nhiên nữ giới vẫn gặp khó khăn nhiều hơn khi sử dụng ứng dụng số phức tạp và có ít cơ hội hơn trong tham gia tập huấn .

Picture 6

Toàn cảnh hội thảo

Tại phiên thảo luận, các diễn giả đã nhận được nhiều ý kiến góp ý của các nhà khoa học tham dự. Các ý kiến đánh giá các kết quả chi tiết và phong phú, làm rõ bức tranh sử dụng ứng dụng CNTT của người DTTS. Bên cạnh đó, các ý kiến cũng chia sẻ các quan sát về mức độ sử dụng ứng dụng CNTT trên thực tế, đồng thời chỉ ra những điểm lưu ý trong lựa chọn biến số khi xử lý số liệu định lượng. Những ảnh hưởng từ yếu tố giới, dân tộc và các yếu tố xã hội khác được Hội thảo trao đổi và nhận diện sâu sắc.

Phát biểu bế mạc Hội thảo, TS. Trần Thị Hồng đánh giá cao kết quả đã đạt được của nhóm nghiên cứu . Hội thảo có ý nghĩa gợi mở về mặt lý luận và phương pháp, từ đó giúp N hiệm vụ có sự rà soát và hoàn thiện , cung cấpcác kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn.

Phan Huyền Dân

  • Quan niệm về sự chuẩn bị cho tuổi già của người dân đô thị hiện nay (nghiên cứu tại Hà Nội)

    Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam. 

  • Ảnh hưởng của việc cha mẹ lao động di cư nông thôn - đô thị đến chăm sóc và giáo dục con cái

    Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.

  • Hạnh phúc của người Việt Nam trưởng thành và ảnh hưởng của các yếu tố

    Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.

  • Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc, cam kết tổ chức và ý định nghỉ việc: Góc nhìn nhân sự từ ngành du lịch gold

    Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l

  • Tác động của các khu kinh tế, khu công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu xã hội tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh

    Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội. 

  • Biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế

    Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện tượng người lao động Việt Nam di cư đi làm việc ở nước ngoài ngày càng phổ biến, kéo theo những biến đổi đáng kể trong cấu trúc và chức năng gia đình. Bài viết phân tích sự biến đổi chức năng kinh tế và chức năng giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế. Kết quả cho thấy, mặc dù kiều hối do bố, mẹ đi lao động nước ngoài gửi về góp phần cải thiện đời sống và nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ, nhưng sự vắng mặt của cha/mẹ trong thời gian dài làm suy giảm chức năng giáo dục trực tiếp, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận và một số ý kiến của cá nhân về sự biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có bố, mẹ di cư lao động quốc tế.

  • Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Giữ gia đình là giữ nếp nhà, giữ văn hóa, giữ sức mạnh trường tồn của dân tộc

    Nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi Thư chúc mừng tới các gia đình Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trang thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung thư.

  • Kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026): Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng

    Ngày 28/6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam – dịp để tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2026 đánh dấu 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026) với chủ đề "Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng", nhấn mạnh thông điệp: xây dựng gia đình hạnh phúc chính là nền tảng quan trọng để phát triển con người, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hướng tới sự phát triển bền vững của quốc gia.

  • Kỷ niệm 25 năm ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026): Quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình

    Năm 2026 đánh dấu cột mốc 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026). Nhìn lại chặng đường một phần tư thế kỷ, có thể thấy rõ sự nhất quán và phát triển liên tục trong quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam, từ việc xác định gia đình là “tế bào của xã hội” đến việc xây dựng “hệ giá trị gia đình” chuẩn mực trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

  • Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”

    Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026), ngày 24/6 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”. Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý cùng nhau trao đổi, thảo luận về thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam và các giải pháp, kiến nghị xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tin liên quan
1 2 3 4 5  ... 
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com