Toạ đàm khoa học “Hành vi học tập của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Một số vấn đề đặt ra”
Sáng ngày 28/09/2026, tại trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (Viện), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Hành vi học tập của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Một số vấn đề đặt ra”. 

Tọa đàm được tổ chức trong khuôn khổ Nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở “Cam kết và động lực học tập của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Hà Nội” do TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh làm chủ nhiệm, nhằm trao đổi một số kết quả nghiên cứu bước đầu, đồng thời mong muốn tạo không gian để các nhà nghiên cứu, viên chức trong và ngoài Viện cùng trao đổi, chia sẻ những góc nhìn và ý kiến góp ý liên quan đến chủ đề. Tọa đàm do TS. Nguyễn Đình Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì, với sự tham gia của đại diện Trường dạy trẻ câm điếc Hà Nội, đại diện Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Hòa nhập (RCI), Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế đại diện sinh viên khiếm thị và đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia và viên chức trong Viện.

Phát biểu khai mạc, TS. Nguyễn Đình Tuấn nhấn mạnh ý nghĩa của việc nghiên cứu hành vi học tập của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong bối cảnh hiện nay. TS Nguyễn Đình Tuấn cho rằng, bên cạnh những yếu tố thuộc về năng lực và đặc điểm cá nhân, hành vi học tập của nhóm trẻ này còn chịu sự tác động của các yếu tố liên quan gia đình, nhà trường, môi trường xã hội. Do đó, việc nhận diện các đặc điểm, động lực cũng như những rào cản trong quá trình học tập của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện nghiên cứu và thực tiễn. 

Mở đầu, tham luận “Từ hiện diện đến tham gia: Động lực và rào cản học tập của học sinh khiếm thị tại Hà Nội” do TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh trình bày, tập trung phân tích động lực, những rào cản trong quá trình học tập và các yếu tố hỗ trợ học sinh khiếm thị thông qua phỏng vấn sâu 7 học sinh khiếm thị. Kết quả cho thấy, các em có động lực hướng tới sự tự lập và được công nhận, song vẫn gặp nhiều rào cản về học liệu, phương pháp giảng dạy, đánh giá, quan hệ bạn bè và sự đồng hành của gia đình; từ đó đặt ra yêu cầu thúc đẩy hòa nhập thực chất, để học sinh khiếm thị không chỉ có mặt tại trường mà thực sự được học tập, tham gia và phát triển.

Picture 1

Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh trình bày tham luận (Ảnh: TH)

Tiếp đó, tham luận “Hành vi học tập của trẻ em khuyết tật từ góc nhìn quyền tiếp cận giáo dục và công tác xã hội: Một số vấn đề đặt ra” do ThS. Bùi Quang Dũng – Khoa Xã hội học và Công tác xã hội (XHH&CTXH), Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế trình bày trực tuyến, tập trung làm rõ mối quan hệ giữa hành vi học tập của trẻ em khuyết tật và môi trường giáo dục. Tham luận nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ việc nhìn nhận hạn chế của trẻ sang nhận diện, tháo gỡ các rào cản về môi trường, phương pháp dạy học, cơ sở vật chất và hệ thống hỗ trợ, bao gồm khung pháp luật về quyền giáo dục trẻ em khuyết tật và góc nhìn của công tác xã hội, hướng tới bảo đảm sự tham gia và hòa nhập thực chất của trẻ em khuyết tật trong giáo dục. 

Tham luận “Giáo dục hòa nhập đối với học sinh khuyết tật: Từ chính sách đến thực tiễn và kinh nghiệm triển khai của RCI” do bà Nguyễn Thanh Thủy, đại diện RCI trình bày, tập trung làm rõ quyền tiếp cận giáo dục hòa nhập của học sinh khuyết tật thông qua bốn mô hình gồm mô hình từ thiện, mô hình y tế, mô hình xã hội và mô hình dựa trên quyền) và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn triển khai. Từ kinh nghiệm của RCI, tham luận nhấn mạnh sự cần thiết của việc cải thiện môi trường và phương pháp giáo dục, nâng cao năng lực giáo viên và tăng cường tính tự chủ, tiếng nói của học sinh khuyết tật, hướng tới bảo đảm cơ hội học tập bình đẳng và hòa nhập thực chất.

Picture 5

Bà Nguyễn Thanh Thủy - Đại diện Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Hòa nhập (RCI) trình bày tham luận (Ảnh: TH)

Cuối cùng là tham luận “Rào cản trong học tập của trẻ em khuyết tật: Thực trạng và những vấn đề đặt ra” do ông Nguyễn Lê Tùng Lâm đại diện nhóm nghiên cứu trình bày, tập trung nhận diện các rào cản ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận, tham gia và duy trì việc học tập của trẻ em khuyết tật. Kết quả tổng quan cho thấy các rào cản chủ yếu đến từ điều kiện và khả năng hỗ trợ của gia đình, cơ sở vật chất và học liệu, tổ chức dạy học và hỗ trợ chuyên môn, cùng với quan hệ xã hội và định kiến. Tham luận đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu hành vi học tập gắn với hoàn cảnh và trải nghiệm của trẻ, trong đó cần tăng cường tiếng nói trực tiếp của trẻ em khuyết tật trong quá trình nghiên cứu và xây dựng các giải pháp hỗ trợ.

Picture 6

Ông Nguyễn Lê Tùng Lâm đại diện nhóm nghiên cứu trình bày tham luận (Ảnh: TH)

Phần thảo luận diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến trao đổi, phản biện và đóng góp của các đại biểu. Các ý kiến tập trung làm rõ vấn đề chính sách, quyền con người và thực tiễn giảng dạy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại các cơ sở giáo dục , đồng thời trao đổi về khả năng vận dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Picture 7

Đại diện Trường dạy trẻ câm điếc Hà Nội trao đổi trong Tọa đàm (Ảnh: TH)

Picture 8

Sinh viên khiếm thị Đỗ Nam Khánh chia sẻ trong Tọa đàm (Ảnh: TH)

Kết luận Tọa đàm, chủ trì TS. Nguyễn Đình Tuấn đánh giá cao các báo cáo tham luận và những ý kiến trao đổi của các đại biểu. Những kết quả được trình bày tại Tọa đàm là nguồn tư liệu có giá trị, góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong thời gian tới.

Tọa đàm cũng là dịp tăng cường trao đổi chuyên môn, kết nối các nhà nghiên cứu và thúc đẩy chia sẻ tri thức giữa các đơn vị, qua đó góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và cung cấp thêm những luận cứ khoa học phục vụ hoạch định, thực hiện và đánh giá chính sách trong lĩnh vực giáo dục, học tập của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Nguyễn Thị Thuý Huyền
  • Quan niệm về sự chuẩn bị cho tuổi già của người dân đô thị hiện nay (nghiên cứu tại Hà Nội)

    Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam. 

  • Ảnh hưởng của việc cha mẹ lao động di cư nông thôn - đô thị đến chăm sóc và giáo dục con cái

    Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.

  • Hạnh phúc của người Việt Nam trưởng thành và ảnh hưởng của các yếu tố

    Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.

  • Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc, cam kết tổ chức và ý định nghỉ việc: Góc nhìn nhân sự từ ngành du lịch gold

    Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l

  • Tác động của các khu kinh tế, khu công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu xã hội tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh

    Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội. 

  • Biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế

    Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện tượng người lao động Việt Nam di cư đi làm việc ở nước ngoài ngày càng phổ biến, kéo theo những biến đổi đáng kể trong cấu trúc và chức năng gia đình. Bài viết phân tích sự biến đổi chức năng kinh tế và chức năng giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế. Kết quả cho thấy, mặc dù kiều hối do bố, mẹ đi lao động nước ngoài gửi về góp phần cải thiện đời sống và nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ, nhưng sự vắng mặt của cha/mẹ trong thời gian dài làm suy giảm chức năng giáo dục trực tiếp, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận và một số ý kiến của cá nhân về sự biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có bố, mẹ di cư lao động quốc tế.

  • Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Giữ gia đình là giữ nếp nhà, giữ văn hóa, giữ sức mạnh trường tồn của dân tộc

    Nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi Thư chúc mừng tới các gia đình Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trang thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung thư.

  • Kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026): Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng

    Ngày 28/6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam – dịp để tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2026 đánh dấu 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026) với chủ đề "Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng", nhấn mạnh thông điệp: xây dựng gia đình hạnh phúc chính là nền tảng quan trọng để phát triển con người, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hướng tới sự phát triển bền vững của quốc gia.

  • Kỷ niệm 25 năm ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026): Quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình

    Năm 2026 đánh dấu cột mốc 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026). Nhìn lại chặng đường một phần tư thế kỷ, có thể thấy rõ sự nhất quán và phát triển liên tục trong quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam, từ việc xác định gia đình là “tế bào của xã hội” đến việc xây dựng “hệ giá trị gia đình” chuẩn mực trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

  • Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”

    Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026), ngày 24/6 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”. Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý cùng nhau trao đổi, thảo luận về thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam và các giải pháp, kiến nghị xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tin liên quan
1 2 3 4 5  ... 
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com