Tọa đàm khoa học “Sự hài lòng của người dân đô thị đối với môi trường sống tại thành phố Hà Nội”
Ngày 28/09/2026, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (Viện) tổ chức Tọa đàm khoa học “Thực trạng đánh giá sự hài lòng của người dân đô thị về môi trường sống tại thành phố Hà Nội”. Tọa đàm do TS. Trần Quý Long, Trưởng phòng Phòng Nghiên cứu Người cao tuổi, Trẻ em và Phát triển xã hội chủ trì, với sự tham dự của các nhà nghiên cứu thuộc Viện.

Tọa đàm là diễn đàn trao đổi về một số kết quả nghiên cứu của Nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở “Sự hài lòng của người dân đô thị về môi trường sống tại thành phố Hà Nội” do ThS.NCVC Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm, đồng thời tiếp nhận ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học nhằm hoàn thiện báo cáo tổng hợp của Nhiệm vụ.

Picture 2

 

Toàn cảnh Tọa đàm

Tại Tọa đàm, ThS. Nguyễn Thị Nga trình bày tham luận “Thực trạng đánh giá sự hài lòng của người dân đô thị về môi trường sống tại thành phố Hà Nội (Kết quả khảo sát tại phường Dương Nội, thành phố Hà Nội)”. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở khảo sát 200 người dân, kết hợp phân tích tài liệu với các phương pháp tiếp cận tâm lý học và xã hội học. Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn người dân có đánh giá tương đối tích cực về không gian xanh công cộng; có 61,4% số người được hỏi cho rằng diện tích không gian xanh phù hợp hoặc rất phù hợp; các chức năng đi bộ, vui chơi, nghỉ ngơi, thể thao… cũng được đánh giá ở mức tương đối cao. Tuy nhiên, nghiên cứu đồng thời chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại liên quan đến diện tích, vệ sinh, cây xanh, hồ nước và an ninh. Có 71,6% người được khảo sát cho biết hài lòng với không gian xanh công cộng, trong khi những nguyên nhân chính của sự chưa hài lòng là diện tích chưa đủ, vấn đề vệ sinh, thiếu cây xanh và hồ nước, khoảng cách và an ninh…

Picture 3

 

Chủ nhiệm Nhiệm vụ, ThS. Nguyễn Thị Nga trình bày tham luận

Sau phần trình bày của ThS. Nguyễn Thị Nga, ThS. Đinh Thị Oanh trình bày tham luận “Phát triển đô thị và bảo vệ môi trường gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng”. Tham luận phân tích mối quan hệ giữa phát triển đô thị, bảo vệ môi trường và nhận thức xã hội; đồng thời chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong quá trình đô thị hóa như ô nhiễm không khí, ngập úng, ùn tắc giao thông, thiếu không gian xanh và áp lực đối với hạ tầng, năng lực quản lý. Từ đó, tham luận đề xuất các giải pháp về hoàn thiện thể chế, quy hoạch tích hợp, phát triển giao thông công cộng, kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch, tăng cường quản trị và giám sát cộng đồng.

Picture 1

 

ThS. Đinh Thị Oanh trình bày tham luận

Phần thảo luận tập trung vào cơ sở lý luận, phương pháp đo lường, dữ liệu và cách diễn giải kết quả nghiên cứu. Các ý kiến đề nghị chủ nhiệm tiếp tục làm rõ và thao tác hóa các khái niệm; thống nhất cách xây dựng và sử dụng thang đo; đồng thời khai thác sâu hơn dữ liệu khảo sát theo các nhóm xã hội như độ tuổi, giới tính và đặc điểm cư trú. Một số ý kiến cũng lưu ý cần phân biệt giữa các chỉ báo phản ánh thực trạng hoặc khả năng tiếp cận với những chỉ báo trực tiếp đo lường mức độ hài lòng. Một số đại biểu cũng gợi mở việc tham khảo các bộ chỉ số, quy chuẩn liên quan đến môi trường và đô thị, xem xét thêm các yếu tố quản lý không gian xanh để lý giải kết quả về sự hài lòng của người dân.

Kết luận Tọa đàm, TS. Trần Quý Long ghi nhận những kết quả bước đầu của nhiệm vụ và cảm ơn các ý kiến trao đổi, góp ý của các đại biểu. Chủ nhiệm nhiệm vụ được đề nghị tiếp thu các ý kiến phù hợp, tiếp tục rà soát, khai thác dữ liệu đã thu thập và hoàn thiện kết quả nghiên cứu, qua đó nâng cao giá trị khoa học và thực tiễn của nhiệm vụ.

Nguyễn Thị Nga

  • Quan niệm về sự chuẩn bị cho tuổi già của người dân đô thị hiện nay (nghiên cứu tại Hà Nội)

    Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam. 

  • Ảnh hưởng của việc cha mẹ lao động di cư nông thôn - đô thị đến chăm sóc và giáo dục con cái

    Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.

  • Hạnh phúc của người Việt Nam trưởng thành và ảnh hưởng của các yếu tố

    Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.

  • Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc, cam kết tổ chức và ý định nghỉ việc: Góc nhìn nhân sự từ ngành du lịch gold

    Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l

  • Tác động của các khu kinh tế, khu công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu xã hội tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh

    Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội. 

  • Biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế

    Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện tượng người lao động Việt Nam di cư đi làm việc ở nước ngoài ngày càng phổ biến, kéo theo những biến đổi đáng kể trong cấu trúc và chức năng gia đình. Bài viết phân tích sự biến đổi chức năng kinh tế và chức năng giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế. Kết quả cho thấy, mặc dù kiều hối do bố, mẹ đi lao động nước ngoài gửi về góp phần cải thiện đời sống và nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ, nhưng sự vắng mặt của cha/mẹ trong thời gian dài làm suy giảm chức năng giáo dục trực tiếp, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận và một số ý kiến của cá nhân về sự biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có bố, mẹ di cư lao động quốc tế.

  • Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Giữ gia đình là giữ nếp nhà, giữ văn hóa, giữ sức mạnh trường tồn của dân tộc

    Nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi Thư chúc mừng tới các gia đình Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trang thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung thư.

  • Kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026): Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng

    Ngày 28/6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam – dịp để tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2026 đánh dấu 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026) với chủ đề "Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng", nhấn mạnh thông điệp: xây dựng gia đình hạnh phúc chính là nền tảng quan trọng để phát triển con người, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hướng tới sự phát triển bền vững của quốc gia.

  • Kỷ niệm 25 năm ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026): Quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình

    Năm 2026 đánh dấu cột mốc 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026). Nhìn lại chặng đường một phần tư thế kỷ, có thể thấy rõ sự nhất quán và phát triển liên tục trong quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam, từ việc xác định gia đình là “tế bào của xã hội” đến việc xây dựng “hệ giá trị gia đình” chuẩn mực trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

  • Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”

    Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026), ngày 24/6 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”. Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý cùng nhau trao đổi, thảo luận về thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam và các giải pháp, kiến nghị xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tin liên quan
1 2 3 4 5  ... 
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com