Khái niệm Vốn Văn hóa, Vốn Xã hội và Vốn Kinh tế của Pie Bourdieu

Thuật ngữ vốn văn hóa ám chỉ tới các tài sản xã hội phi tài chính, cái có thể làm thúc đẩy sự di chuyển về mặt xã hội trên cả những phương tiện về kinh tế. Các ví dụ về vốn văn hóa có thể bao gồm giáo dục, học vấn, phong cách ăn nói, phong cách ăn mặc hay ngoại hình. Vốn văn hóa (tiếng Pháp: le capital culturel) là một thuật ngữ xã hội học đã được thừa nhận rộng rãi kể từ lần đầu tiên được giới thiệu bởi Pierre Bourdieu. Bourdieu và Jean-Claude Passeron lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ này trong "Sự tái sản xuất văn hóa và xã hội” (1974).Trong công trình này ông đã cố gắng giải thích về những sự khác biệt của trẻ em tại Pháp trong suốt những năm 1960. Công trình này đã được xây dựng và phát triển thành các loại vốn khác nhau trong tác phẩm “Các hình thức về vốn” (1986); và về giáo dục đại học, trong tác phẩm “Sự cao thượng của nhà nước” (1998).

Đối với Bourdieu, vốn đóng vai trò là một một quan hệ xã hội trong một hệ thống của sự trao đổi, và thuật ngữ này được mở rộng ra “cho tất cả các hàng hóa vật chất lẫn biểu tượng, không có nhiều sự phân biệt, mà biểu hiện chúng là hiếm có và đáng giá để được tìm kiếm sau một sự hình thành xã hội cụ thể” (trích trong Harker, 1990:13) và vốn văn hóa đóng vai trò như một mối quan hệ xã hội trong một hệ thống trao đổi trong đó bao gồm các kiến thức văn hóa được tích tụ có khả năng trao quyền và nâng cao vị thế.

Vốn xã hội là tổng hợp các nguồn lực thực tế hay tiềm năng mà có liên quan đến việc sở hữu một mạng lưới của các mối quan hệ ít nhiều được thể chế hóa hay nói cách khác để trở thành một thành viên trong nhóm, điều này cung cấp cho mỗi thành viên một cái vốn sở hữu nhất định của một tập thể. Các nhóm này được đảm bảo và thể chế hóa ở mặt xã hội với những cái tên như: một gia đình, một lớp học, một trường học, một nhóm tiệc tùng, một bộ lạc…). Vốn xã hội có được bởi một chủ thể phụ thuộc vào độ lớn của mạng lưới những liên kết một người có thể đạt được thông qua các nguồn vốn khác nhau (vốn kinh tế, văn hóa hay biểu tượng). Những lợi ích được tích lũy từ các thành viên của nhóm là nền tảng cho sự đoàn kết của các cá nhân trong nhóm bao gồm cả lợi ích về vật chất và biểu tượng (trong trường hợp đây là một nhóm hiếm có, ít và có uy tín).

Vốn kinh tế (về cơ bản) là nguồn gốc của các loại vốn còn lại. Vốn kinh tế được chuyển thành vốn xã hội thông qua ví dụ như sau: một món quà được trao không chỉ có giá trị về mặt tiền bạc mà nó còn thể hiện sự quan tâm, thời gian bỏ ra của người mua quà để chọn được một món quà ưng ý. Tương tự như vậy, vốn văn hóa cũng có thể bắt nguồn từ vốn kinh tế. Vốn văn hóa của một người hay một nhóm người cần rất nhiều thời gian mới có thể tích lũy được. Ví dụ như việc đi học đại học, cần phải đầu tư nhiều thời gian, tiền bạc và công sức để đạt được vốn văn hóa  này. Thời gian đi học cũng có thể tính ra tiền bởi vì thay vì đi kiếm tiền (làm một công việc chỉ yêu cầu trình độ phổ thông chẳng hạn), người đó lại đi học và cần có một nguồn vốn kinh tế vững chắc nhất định lâu dài để tạo ra vốn văn hóa cho mình. Và vốn văn hóa, quay trở lại, lại làm mạnh hơn vốn kinh tế của người đó.

Các dạng vốn cụ thể trong “các hình thức về vốn’ (1986) được Bourdieu chia ra làm 3 loại đó là:

Vốn kinh tế: chỉ huy các nguồn lực kinh tế (tiền mặt, tài sản, đất đai).

Vốn xã hội: Các nguồn lực dựa vào thanh viên của nhóm, các mối quan hệ, các mạng lưới của sự ảnh hưởng và hỗ trợ. Bourdieu miêu tả vốn xã hội là tập hợp của những nguồn lực thực tế và tiềm năng có liên quan tới việc đạt được một mạng lưới bền chặt của các mối quan hệ ít nhiều được thể chế hóa của mối quan hệ và sự thừa nhận chung.

Vốn văn hóa: các dạng kiến thức, tri thức, kỹ năng, trình độ học vấn giáo dục và những lợi thế mà một người có được, điều giúp cho họ có một vị thế cao hơn trong xã hội. Cha mẹ, gia đình cung cấp cho đứa trẻ vốn văn hóa bằng cách truyền tải những thái độ và kiến thức cần thiết để đứa trẻ có thể thành công trong hệ thống giáo dục hiện tại.

Cuối cùng thì ông đã thêm vào khái niệm về vốn biểu tượng (các nguồn lực sẵn có cho một cá nhân trên con đường công danh sự nghiệp, danh tiếng và sự thừa nhận).

Trong vốn văn hóa, ông lại chia ra làm 3 loại: vốn văn hóa kế thừa, khách quan và thể chế hóa (Bourdieu, 1986:47).

Vốn văn hóa kế thừa bao gồm những tài sản được kế thừa của một người (sự kế thừa ở đây không mang tính chất di chuyển mà có ý nghĩa là sự tiếp nhận, hưởng thụ thông qua thời gian, thường là từ một gia đình thông qua quá trình xã hội hóa, thông qua văn hóa và truyền thống của gia đình). Vốn văn hóa thì không được kế thừa một cách ngẫu nhiên như một món quà mà nó đòi hòi yếu tố thời gian in đậm lên lối sống của một con người “habitus” (cá tính hay lối suy nghĩ). Ví dụ vốn ngôn ngữ, được định nghĩa là quyền làm chủ và quan hệ với ngôn ngữ (Bourdieu, 1990:114), có thể được hiểu là một dạng của vốn văn hóa kế thừa mà thể hiện được các phương tiện của sự giao tiếp và trình bày của một người có được thông qua nền văn hóa xung quanh người đó.

Vốn văn hóa khách quan bao gồm những vật thể hữu hình mà người đó có được như là những công trình khoa học hay những công trình nghệ thuật. Những sản phẩm văn hóa này có thể được chuyển hóa sang các lợi ích về mặt kinh tế (như là việc bán các tác phẩm này) và cho mục đích “biểu tượng”, chuyển từ vốn kinh tế sang vốn văn hóa (như là việc mua các tác phẩm này), người mua đã truyền tải các vốn văn hóa bằng việc sở hữu một bức tranh. Một người chỉ có thể “tiêu thụ” một bức tranh khi người đó có một nền tảng hiểu biết nhất định để có thể hiểu về ý nghĩa của nó.

Vốn văn hóa được thể chế hóa bao gồm sự thừa nhận về mặt thể chế hóa thường xuất hiện trong các dạng giải thưởng hay bằng cấp có tính hàn lâm về vốn văn hóa của một cá nhân. Sự thừa nhận về mặt thể chế này do vậy mà xóa nhòa đi cuộc tranh luận về vốn văn hóa với vốn kinh tế mà người bán có thể sử dụng để mô tả vốn của họ và người mua có thể sử dụng để mô tả những nhu cầu của họ.

Vốn văn hóa theo Bourdieu có liên quan mật thiết và khá giống với nhau. Vốn văn hóa, cũng giống như vốn kinh tế, là một thứ mà một người theo đuổi để có được quyền lực. Vốn văn hóa không nhất thiết là yếu tố theo sau vốn kinh tế, chúng có thể trao đổi cho nhau và cái này quan trọng hơn cái kia trong những bối cảnh khác nhau. Một ý nghĩa nổi bật trong tác phẩm này của ông là quyền lực của các nhóm khác nhau có thể dựa trên những vốn khác nhau.

Những chỉ trích về khái niệm này

Nhiều nhà nghiên cứu, khi sử dụng các khái niệm của ông đã chỉ trích rằng, những khái niệm mà ông đưa ra vẫn còn thiếu sự rõ ràng, dẫn tới việc ứng dụng những khái niệm của ông theo nhiều cách khác nhau và có những kết luận khác nhau. Một số người khác thì chỉ trích rằng, các khía cạnh trong những khái niệm được nhắc tới nhấn mạnh quá nhiều tới văn hóa của giai cấp trung lưu. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng nhiều nghiên cứu đã nỗ lực sử dụng thang đo về vốn văn hóa (điểm mạnh trong khái niệm của ông) để tìm hiểu, giải thích những khía cạnh của văn hóa trung lưu có giá trị như thế nào tới hệ thống giáo dục.

Tuy nhiên tác giả John Goldthorpe từ đại học Oxford đã chỉ trích rằng: Quan điểm của Bourdieu về sự chuyển đổi của vốn văn hóa là một quá trình chủ chốt trong việc tái sản xuất xã hội là khá sai lầm bởi vì ông chưa tính đến những nhóm thiệt thòi trong xã hội, những nhóm không tiếp cận được tới nền văn hóa bậc cao, văn hóa về trình độ giáo dục chưa chắc đã là duy nhất. Bên cạnh đó, nhiều chỉ trích từ phía các học giả cũng chỉ ra rằng, các yếu tố về giới (sự nhạy cảm về giới) trong khái niệm của Bourdieu cũng chưa được đề cập tới.

Phan Thanh Thanh (tổng hợp và phân tích)

Tài liệu tham khảo

  • Bourdieu, P. (1974). Social reproduction and cultural reproduction. P. Bourdieu. The economy of symbolic exchanges, 295-336.
  • Bourdieu, P. (1986). The forms of capital. Cultural theory: An anthology, 81-93.
  • Bourdieu, P., & Passeron, J. C. (1990). Reproduction in education, society and culture (Vol. 4). Sage.
  • Bourdieu, P. (1998). The state nobility: Elite schools in the field of power. Stanford University Press

 

image advertisement
image advertisement
image advertisement
Tin mới
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com