24/07/2026
Sinh hoạt khoa học: “Một số kết quả nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ số của người cao tuổi xã Nguyễn Du, tỉnh Hưng Yên”
Sáng ngày 24/07/2026, Phòng Nghiên cứu Quyền con người và An ninh con người, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đã tổ chức buổi sinh hoạt khoa học với chủ đề “Một số kết quả nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ số của người cao tuổi xã Nguyễn Du, tỉnh Hưng Yên”, tại số 9 Kim Mã Thượng, phường Ngọc Hà, Hà Nội. Đây là hoạt động trong khuôn khổ nhiệm vụ cấp cơ sở năm 2026 “Quyền tiếp cận công nghệ số của người cao tuổi ở một xã nông thôn tỉnh Hưng Yên: Thực trạng và những vấn đề đặt ra” do Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì, ThS. Phạm Thị Huyền làm chủ nhiệm.
Buổi sinh hoạt tập trung trình bày
và
trao đổi một số kết quả nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ số của người cao tuổi (NCT) -
một trong những nội dung nghiên cứu của nhiệm vụ.
Đây cũng là dịp để các nhà nghiên cứu thảo luận
về cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và những kết quả bước đầu của đề tài.
Tham dự buổi sinh hoạt khoa học có toàn thể viên chức Phòng Nghiên cứu Quyền con người - An ninh con người cùng một số viên chức của Viện.
Toàn cảnh buổi sinh hoạt khoa học
Tại buổi sinh hoạt, ThS. Phạm Thị Huyền đã giới thiệu khái quát mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu của nhiệm vụ. Nghiên cứu
vận dụng cách tiếp cận dựa trên quyền con người
nhằm
xác định
tính sẵn có (cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nguồn lực hỗ trợ...), khả năng tiếp cận
của
NCT. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa
Khung chỉ số quyền con người (Human Rights Indicators)
của
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Quyền con người (OHCHR)
và
lý thuyết khoảng cách số
đa cấp độ của Van Dijk
và cộng sự
nhằm phân tích quá trình thực hiện
quyền trong
bối cảnh chuyển đổi
số.
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn sâu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy
phần lớn NCT tại địa bàn nghiên cứu đã có kết nối Internet và sở hữu ít nhất một thiết bị có khả năng truy cập
Internet. Bên cạnh đó, nhiều người đã biết đến một số dịch vụ số phổ biến như: VNeID, ngân hàng điện tử, dịch vụ công trực tuyến và các dịch vụ số phục vụ nhu cầu thiết yếu. Đây là những
dịch vụ tiêu biểu trong các lĩnh vực định danh điện tử, tài chính số, hành chính công, thương mại điện tử và an sinh xã hội, đồng thời gắn với các nhu cầu thiết yếu trong đời sống hằng ngày của
NCT.
Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng các dịch vụ vẫn còn rất thấp.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy,
NCT
chủ yếu
ưu tiên sử dụng
công nghệ số
cho những nhu cầu gần gũi trong đời sống hằng ngày
như tìm kiếm thông tin, thanh toán
trực tuyến (điện, nước, Internet hoặc nạp tiền điện thoại...)
hoặc tra cứu một số thông tin thiết yếu về thời tiết, giá cả, sức khỏe... Trong khi
đó,
các hoạt động gắn với việc thực hiện quyền công dân, tiếp cận dịch vụ công và dịch vụ an sinh chỉ
được
sử dụng
ở mức hạn chế.
Đáng chú ý, đối với nhiều dịch vụ số, NCT vẫn chủ yếu nhờ con cháu, người thân, hàng xóm hoặc cán bộ địa phương làm giúp. Tỷ lệ người có thể tự thực hiện các dịch vụ số chưa cao.
Nghiên cứu cũng chỉ ra hai khoảng cách đáng chú ý trong quá trình thực hiện quyền, gồm khoảng cách giữa nhận biết và sử dụng dịch vụ số; và khoảng cách giữa sử dụng với khả năng tự thực hiện dịch vụ số.
Nhiều người đã biết đến và có sử dụng dịch vụ số nhưng vẫn chưa thể tự thực hiện một cách độc lập, mà còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của người thân hoặc những người xung quanh.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy
NCT
còn gặp nhiều rào cản trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ số. Các rào cản được phân thành năm nhóm chính gồm:
(i) sức khỏe và năng lực cá nhân, như thị lực suy giảm, thao tác khó khăn, trí nhớ hạn chế hoặc tâm lý cho rằng tuổi cao nên khó tiếp cận công nghệ;
(ii) điều kiện kinh tế, như chưa đủ khả năng mua điện thoại thông minh hoặc chi phí sử dụng Internet còn là gánh nặng;
(iii) hạ tầng và công nghệ, gồm kết nối Internet chưa ổn định và nhiều ứng dụng, phần mềm còn phức tạp, khó sử dụng;
(iv) hỗ trợ xã hội, khi nhiều người chưa có người hướng dẫn hoặc thường phụ thuộc vào người thân thực hiện thay; và
(v) tâm lý và an toàn số, thể hiện ở tâm lý ngại hỏi, lo ngại bị lừa đảo, mất thông tin cá nhân hoặc cho rằng việc sử dụng công nghệ số chưa thực sự cần thiết. Trong
năm nhóm rào cản, các
hạn chế về sức khỏe
và năng lực cá nhân
được xác định là rào cản nổi bật nhất ở cả nhóm người đã sử dụng và nhóm chưa sử dụng công nghệ số.
Trong phần thảo luận, các nhà khoa học tham dự đã trao đổi sôi nổi về cách tiếp cận nghiên cứu, khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và tiêu chí chọn mẫu.
Nhiều ý kiến tập trung làm rõ nội hàm quyền tiếp cận công nghệ số,
làm rõ cách tiếp cận dựa trên quyền, góp ý
hoàn thiện khung phân tích,
nâng cấp độ khoảng cách số bắt đầu từ cấp độ điều kiện tiếp cận (internet và thiết bị) thành 3 cấp độ
theo lý thuyết khoảng cách số đa cấp độ của
Van Dijk. Đồng thời
đề xuất hướng hoàn thiện báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị chính sách.
Buổi sinh hoạt diễn ra trong không khí trao đổi cởi mở
với nhiều ý kiến góp ý thiết thực từ các
nhà khoa học.
Những ý kiến trao đổi tại buổi sinh hoạt là cơ sở quan trọng để
chủ nhiệm
tiếp tục hoàn thiện đề tài, góp phần cung cấp luận cứ khoa học
phục vụ việc
xây dựng
và hoàn thiện
chính sách nhằm thúc đẩy quyền tiếp cận công nghệ số của
NCT
trong bối cảnh chuyển đổi số.
Phạm Thị Huyền
-
Sáng ngày 27/08/2026, tại trụ sở số 9 Kim Mã Thượng, Ngọc Hà, Hà Nội, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong nền kinh tế số ở Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra”. Tọa đàm thuộc nhiệm vụ cấp Cơ sở “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong nền kinh tế số ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, do TS. Phạm Thị Tính làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là cơ quan chủ trì.
-
Chiều ngày 27/08/2026, tại trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Các cách tiếp cận trong nghiên cứu về thành tựu nhân loại về xây dựng hệ thống an sinh xã hội thông minh”.
-
Trong khuôn khổ các hoạt động khoa học năm 2026 của Viện, ngày 26/08/2026 tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Chăm sóc và giáo dục con của người lao động di cư khu vực phi chính thức: Những phát hiện ban đầu từ nghiên cứu tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh”. Hội thảo là một trong số các hoạt động của Nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ “Chăm sóc và giáo dục con lứa tuổi học sinh phổ thông của cha mẹ di cư khu vực phi chính thức tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh” (Mã số: KHXH/NV/2025-80) do Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là cơ quan chủ trì và ThS. NCVC. Vũ Thị Cúc làm chủ nhiệm thực hiện trong thời gian 2 năm (2025-2026).
-
Sáng 20/08/2026, tại Hội trường tầng 4, trụ sở 27 Trần Xuân Soạn (Hà Nội), Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đã tổ chức Hội thảo khoa học “Thực trạng vốn con người trong sản xuất nông nghiệp bền vững ở Thái Bình”, thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ “Vốn con người trong sản xuất nông nghiệp bền vững ở Thái Bình: Thực trạng và giải pháp” do TS. Lê Thị Đan Dung làm Chủ nhiệm. Hội thảo do TS. Nguyễn Đình Tuấn, Viện trưởng, chủ trì, với sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học trong Viện.
-
Internet và mạng xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của học sinh trong kỷ nguyên số, mở ra những cơ hội học tập và kết nối vô hạn. Tuy nhiên, song hành với những tiện ích đó là sự gia tăng đáng báo động của các hành vi lệch chuẩn trong môi trường ảo, trong đó bắt nạt trực tuyến (cyberbullying) đang trở thành một vấn đề nhức nhối trong môi trường học đường. Do đó, việc tìm hiểu thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với hiện tượng bắt nạt trực tuyến càng có ý nghĩa quan trọng. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Thái độ và hành vi với bắt nạt trực tuyến của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội” do TS. Trần Quý Long làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì thực hiện năm 2026 đã khảo sát bảng hỏi đối với 210 học sinh lớp 10, 11 và lớp 12 ở 02 trường trung học phổ thông tại khu vực nông thôn và đô thị ở Hà Nội.
-
Sáng ngày 25/06/2026, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (IHFGS) đã có buổi làm việc với Trung tâm ASEAN về Già hoá chủ động và Sáng tạo (ASEAN Center for Active Aging and Innocvation-ACAI).
-
Trong khuôn khổ thực hiện nhiệm vụ cấp Bộ “Nâng cao hiểu biết số của người cao tuổi hiện nay vì mục tiêu phát triển con người (qua nghiên cứu ở thành phố Hà Nội và tỉnh Thái Bình)”, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường Cửa Nam tổ chức Hội nghị chia sẻ thông tin và triển khai khảo sát, đánh giá hiểu biết số của người cao tuổi trên địa bàn phường Cửa Nam (Hà Nội) trong bối cảnh chuyển đổi số.. Hoạt động này diễn ra vào đúng dịp kỉ niệm 3 năm ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10/2022-10/10/2025).
-
-
-
-
Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam.
-
Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.
-
Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.
-
Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l
-
Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội.
-
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện tượng người lao động Việt Nam di cư đi làm việc ở nước ngoài ngày càng phổ biến, kéo theo những biến đổi đáng kể trong cấu trúc và chức năng gia đình. Bài viết phân tích sự biến đổi chức năng kinh tế và chức năng giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế. Kết quả cho thấy, mặc dù kiều hối do bố, mẹ đi lao động nước ngoài gửi về góp phần cải thiện đời sống và nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ, nhưng sự vắng mặt của cha/mẹ trong thời gian dài làm suy giảm chức năng giáo dục trực tiếp, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận và một số ý kiến của cá nhân về sự biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có bố, mẹ di cư lao động quốc tế.
-
Nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi Thư chúc mừng tới các gia đình Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trang thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung thư.
-
Ngày 28/6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam – dịp để tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2026 đánh dấu 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026) với chủ đề "Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng", nhấn mạnh thông điệp: xây dựng gia đình hạnh phúc chính là nền tảng quan trọng để phát triển con người, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hướng tới sự phát triển bền vững của quốc gia.
-
Năm 2026 đánh dấu cột mốc 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026). Nhìn lại chặng đường một phần tư thế kỷ, có thể thấy rõ sự nhất quán và phát triển liên tục trong quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam, từ việc xác định gia đình là “tế bào của xã hội” đến việc xây dựng “hệ giá trị gia đình” chuẩn mực trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
-
Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026), ngày 24/6 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”. Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý cùng nhau trao đổi, thảo luận về thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam và các giải pháp, kiến nghị xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới.
| |
-
Đang online:
1
-
Hôm nay:
1
-
Trong tuần:
1
-
Tất cả:
1
|