04/08/2026
Thái độ của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội với vấn đề bắt nạt trực tuyến
Internet và mạng xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của học sinh trong kỷ nguyên số, mở ra những cơ hội học tập và kết nối vô hạn. Tuy nhiên, song hành với những tiện ích đó là sự gia tăng đáng báo động của các hành vi lệch chuẩn trong môi trường ảo, trong đó bắt nạt trực tuyến (cyberbullying) đang trở thành một vấn đề nhức nhối trong môi trường học đường. Do đó, việc tìm hiểu thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với hiện tượng bắt nạt trực tuyến càng có ý nghĩa quan trọng. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Thái độ và hành vi với bắt nạt trực tuyến của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội” do TS. Trần Quý Long làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì thực hiện năm 2026 đã khảo sát bảng hỏi đối với 210 học sinh lớp 10, 11 và lớp 12 ở 02 trường trung học phổ thông tại khu vực nông thôn và đô thị ở Hà Nội.
Chủ nhiệm đề tài tiến hành thu thập thông tin với học sinh
Kết quả phân tích số liệu khảo sát cho thấy học sinh trung học phổ thông trong mẫu khảo sát có thái độ tích cực với hiện tượng bắt nạt trực tuyến k
hi phần lớn không đồng ý với các hành vi được đề cập. Qua đó cho thấy đa số học sinh có nhận thức đúng đắn về tính tiêu cực và không thể chấp nhận của các hành vi bắt nạt trên môi trường mạng. Nói cách khác, học sinh có xu hướng cho rằng những hành vi như xúc phạm, đe dọa, lan truyền thông tin sai sự thật, chế giễu hoặc cô lập người khác thông qua các nền tảng trực tuyến là không bình thường.
Có sự khác biệt giới tính trong thái độ với bắt nạt trực tuyến thể hiện qua nhận thức của học sinh trung học phổ thông ở địa bàn khảo sát. Kết quả phân tích cho thấy học sinh nam có điểm trung bình đồng ý với các hành vi bắt nạt trực tuyến cao hơn học sinh nữ. Như vậy, thái độ của học sinh nam thể hiện qua nhận thức kém tích cực hơn so với học sinh nữ, trong khi học sinh nữ có xu hướng không đồng tình với các hành vi bạo lực trực tuyến ở mức cao hơn. Mặc dù cả hai nhóm đều có điểm trung bình ở mức thấp, nhưng nhìn chung học sinh đều không ủng hộ các hành vi bắt nạt trực tuyến, song sự chênh lệch giữa hai nhóm giới tính vẫn phản ánh những khác biệt nhất định trong cách nhìn nhận và đánh giá về tính chấp nhận được của các hành vi này.
Xét theo lớp học,
học sinh ở các lớp học cao hơn có nhận thức đúng đắn hơn về bắt nạt trực tuyến. Xu hướng này phản ánh sự cải thiện về nhận thức theo quá trình học tập và trưởng thành của học sinh trong bậc trung học phổ thông. Sự trưởng thành về mặt nhận thức, cảm xúc và kỹ năng xã hội giúp học sinh ở các lớp học cao hơn hiểu rõ hơn về hậu quả của các hành vi gây tổn thương trên không gian mạng đối với cá nhân và tập thể. Đồng thời, qua thời gian học tập ở trường trung học phổ thông, học sinh các lớp trên cũng có nhiều cơ hội hơn để được tiếp cận các hoạt động giáo dục về đạo đức, kỹ năng sống, văn hóa ứng xử trên môi trường mạng và an toàn số.
Thái độ thể hiện qua nhận thức đối với hiện tượng bắt nạt trực tuyến có sự khác biệt giữa học sinh trung học phổ thông khu vực thành thị và khu vực nông thôn. Theo kết quả phân tích, học sinh khu vực thành thị có xu hướng không chấp nhận các hành vi bắt nạt trực tuyến nhiều hơn so với học sinh khu vực nông thôn. Có thể thấy, học sinh khu vực thành thị thường có điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin, internet và các nền tảng số từ sớm, đồng thời các em cũng có nhiều cơ hội được tham gia các chương trình giáo dục về kỹ năng số, an toàn trên không gian mạng. Việc được tiếp cận thường xuyên với các nguồn thông tin và hoạt động truyền thông về quyền riêng tư, an toàn số cũng như những hậu quả của bắt nạt trực tuyến có thể giúp học sinh thành thị hình thành nhận thức đầy đủ hơn về tính nghiêm trọng, và từ đó ít chấp nhận các hành vi bắt nạt trực tuyến hơn.
Kết quả nghiên cứu phản ánh những thái độ tích cực của học sinh trung học phổ thông về các chuẩn mực ứng xử trên không gian mạng, đồng thời cho thấy những nỗ lực của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục kỹ năng số, đạo đức số và văn hóa ứng xử trực tuyến bước đầu đã phát huy hiệu quả. Nghiên cứu cũng cho thấy thái độ đối với bắt nạt trực tuyến chịu tác động của các yếu tố cá nhân. Điều này gợi mở rằng các chương trình giáo dục, tuyên truyền cần được thiết kế theo hướng phân tầng đối tượng, ưu tiên nhiều hơn cho học sinh trung học phổ thông là nam, học ở lớp thấp hơn, cư trú ở khu vực nông thôn, đây là những nhóm có khả năng thể hiện thái độ ít tích cực hơn đối với hiện tượng bắt nạt trực tuyến.
Trần Quý Long
-
Internet và mạng xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của học sinh trong kỷ nguyên số, mở ra những cơ hội học tập và kết nối vô hạn. Tuy nhiên, song hành với những tiện ích đó là sự gia tăng đáng báo động của các hành vi lệch chuẩn trong môi trường ảo, trong đó bắt nạt trực tuyến (cyberbullying) đang trở thành một vấn đề nhức nhối trong môi trường học đường. Do đó, việc tìm hiểu thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với hiện tượng bắt nạt trực tuyến càng có ý nghĩa quan trọng. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Thái độ và hành vi với bắt nạt trực tuyến của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội” do TS. Trần Quý Long làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì thực hiện năm 2026 đã khảo sát bảng hỏi đối với 210 học sinh lớp 10, 11 và lớp 12 ở 02 trường trung học phổ thông tại khu vực nông thôn và đô thị ở Hà Nội.
-
Từ ngày 20/07 đến ngày 24/07 năm 2026, đoàn công tác Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã triển khai khảo sát tại phường Dương Nội, thành phố Hà Nội. Đây là hoạt động trong khuôn khổ Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Sự hài lòng của người dân đô thị về môi trường sống tại thành phố Hà Nội” (Mã số nhiệm vụ: CNGĐ&G/NV/2026-15) do ThS. Nguyễn Thị Nga là chủ nhiệm và Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và giới là chủ trì.
-
Từ ngày 30/6 đến ngày 04/07/2026, đoàn nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã triển khai hoạt động khảo sát thực địa tại phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội. Đây là hoạt động thuộc Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2026 “An ninh cá nhân của phụ nữ đô thị ở Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số” (Mã số nhiệm vụ: CNGĐ&G/NV/2026-14), do ThS. Lê Thị Liễu Hạnh làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là đơn vị chủ trì thực hiện.
-
Trong thời gian từ ngày 29/06/2026 đến ngày 03/07/2026 đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã triển khai hoạt động khảo sát thực địa tại xã Tà Xùa, tỉnh Sơn La. Đây là hoạt động trong khuôn khổ Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở: “Ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp ứng phó với thiên tai của phụ nữ dân tộc thiểu số ở một xã của tỉnh Sơn La” (Mã số nhiệm vụ: CNGĐ&G/NV/2026-15) do TS. Đặng Thanh Nhàn là chủ nhiệm và Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là tổ chức chủ trì.
-
Trong khuôn khổ hoạt động khoa học của đề tài “Phân biệt tuổi tác đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hoá dân số ở Việt Nam” (Mã số: 504.05-2025.07), Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đã tổ chức hội thảo khoa học “Cơ sở lý luận và xây dựng bộ công cụ nghiên cứu về phân biệt tuổi tác đối với người cao tuổi” tại Hà Nội, sáng ngày 05/06/2026. Đề tài do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ, TS. Trịnh Thái Quang làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là đơn vị chủ trì. Mục đích của hội thảo là tạo diễn đàn trao đổi học thuật, tiếp thu ý kiến chuyên gia để hoàn thiện cơ sở lý luận và bộ công cụ thu thập dữ liệu của đề tài.
-
Sáng ngày 25/06/2026, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (IHFGS) đã có buổi làm việc với Trung tâm ASEAN về Già hoá chủ động và Sáng tạo (ASEAN Center for Active Aging and Innocvation-ACAI).
-
Trong khuôn khổ thực hiện nhiệm vụ cấp Bộ “Nâng cao hiểu biết số của người cao tuổi hiện nay vì mục tiêu phát triển con người (qua nghiên cứu ở thành phố Hà Nội và tỉnh Thái Bình)”, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường Cửa Nam tổ chức Hội nghị chia sẻ thông tin và triển khai khảo sát, đánh giá hiểu biết số của người cao tuổi trên địa bàn phường Cửa Nam (Hà Nội) trong bối cảnh chuyển đổi số.. Hoạt động này diễn ra vào đúng dịp kỉ niệm 3 năm ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10/2022-10/10/2025).
-
-
-
-
Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam.
-
Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.
-
Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.
-
Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l
-
Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội.
-
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện tượng người lao động Việt Nam di cư đi làm việc ở nước ngoài ngày càng phổ biến, kéo theo những biến đổi đáng kể trong cấu trúc và chức năng gia đình. Bài viết phân tích sự biến đổi chức năng kinh tế và chức năng giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế. Kết quả cho thấy, mặc dù kiều hối do bố, mẹ đi lao động nước ngoài gửi về góp phần cải thiện đời sống và nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ, nhưng sự vắng mặt của cha/mẹ trong thời gian dài làm suy giảm chức năng giáo dục trực tiếp, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận và một số ý kiến của cá nhân về sự biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có bố, mẹ di cư lao động quốc tế.
-
Nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi Thư chúc mừng tới các gia đình Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trang thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung thư.
-
Ngày 28/6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam – dịp để tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2026 đánh dấu 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026) với chủ đề "Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng", nhấn mạnh thông điệp: xây dựng gia đình hạnh phúc chính là nền tảng quan trọng để phát triển con người, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hướng tới sự phát triển bền vững của quốc gia.
-
Năm 2026 đánh dấu cột mốc 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026). Nhìn lại chặng đường một phần tư thế kỷ, có thể thấy rõ sự nhất quán và phát triển liên tục trong quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam, từ việc xác định gia đình là “tế bào của xã hội” đến việc xây dựng “hệ giá trị gia đình” chuẩn mực trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
-
Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026), ngày 24/6 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”. Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý cùng nhau trao đổi, thảo luận về thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam và các giải pháp, kiến nghị xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới.
| |
-
Đang online:
1
-
Hôm nay:
1
-
Trong tuần:
1
-
Tất cả:
1
|