Giới thiệu đề tài cấp Bộ trọng điểm “Lý luận và thực tiễn xây dựng chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”
Đề tài cấp Bộ trọng điểm “Lý luận và thực tiễn xây dựng chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới” thuộc Chương trình trọng điểm cấp Bộ: “Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam” của Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam. 

Đề tài do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới chủ trì thực hiện từ tháng 6/2023 đến tháng 12/2024 và Tiến sĩ Bùi Thị Hương Trầm, Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Nghiên cứu Hôn nhân và Gia đình là chủ nhiệm.

Picture 3

 

Chủ nhiệm TS. Bùi Thị Hương Trầm trình bày nội dung nghiên cứu của Đề tài

Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định nội dung lý luận và thực tiễn nhận diện chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và các yếu tố tác động, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đề tài có các mục tiêu cụ thể như sau: 1) Xác định nội dung lý luận và thực tiễn phân tích về chuẩn mực con người và xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam; 2) Nhận diện chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; 3) Phân tích các yếu tố tác động đến chuẩn mực con người Việt Nam và 4) Những yêu cầu đặt ra đối với chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới và các định hướng giải pháp xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam.

Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập có mối liên quan mật thiết với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị của quốc gia - dân tộc cũng như kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại. Để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng các cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận giá trị học và cách tiếp cận liên ngành.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát định lượng và thu thập thông tin định tính. Đề tài đã tiến hành khảo sát thực tiễn tại sáu tỉnh/thành phố trước sắp xếp, sáp nhập là Cao Bằng, Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên), Nghệ An, Đắk Lắk, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ. Đây là các tỉnh/thành đại diện cho sáu vùng với những đặc trưng về vị trí địa lý, lịch sử phát triển, các nhóm dân cư và các thành phần dân tộc đa dạng, giá trị văn hóa và con người. Mẫu khảo sát định lượng là 1.826 người và khảo sát định tính gồm 90 cuộc phỏng vấn sâu và 30 cuộc thảo luận nhóm.

Chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp lý được thể hiện qua 03 lĩnh vực giao tiếp hình thành nên các chuẩn mực chung tiêu biểu cho con người Việt Nam gồm: quan hệ gia đình, quan hệ cộng đồng và quan hệ xã hội. Đây cũng chính là ba hợp phần nghiên cứu chuẩn mực con người Việt Nam. Trong mỗi lĩnh vực như vậy lại hình thành các chuẩn mực nhỏ hơn. Đề tài khảo sát 36 chuẩn mực nhỏ tương ứng với 03 lĩnh vực (12 chuẩn mực nhỏ/mỗi lĩnh vực).

Picture 4

 

Nhóm công tác của Đề tài chụp ảnh kỷ niệm cùng cán bộ địa phương nơi khảo sát

Để tìm hiểu chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đề tài đã tập trung vào nhận diện chuẩn mực con người trong ba mối quan hệ như sau: 1) Chuẩn mực con người trong mối quan hệ gia đình; 2) Chuẩn mực con người trong mối quan hệ cộng đồng ; 3) Chuẩn mực con người trong mối quan hệ xã hội . Đồng thời, đề tài cũng đi sâu phân tích, nhận diện các hành vi lệch chuẩn xã hội trong các mối quan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội.

Việc nhận diện và xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam cũng được đặt trong mối quan hệ với các yếu tố như: quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; biến đổi kinh tế - xã hội, toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yếu tố giáo dục gia đình.

Từ những yêu cầu đặt ra đối với chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, đề tài đề xuất 09 chuẩn mực cốt lõi của con người Việt Nam thời kỳ mới, đó là: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo, hoà thuận với 36 biểu hiện cụ thể. Chuẩn mực cốt lõi con người Việt Nam thời kỳ mới cần thể hiện được sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa, nhuần nhuyễn giữa chuẩn mực truyền thống và chuẩn mực hiện đại.

Picture 6

Hình ảnh một cuộc phỏng vấn sâu người dân địa phương

Picture 1

Quang cảnh một cuộc toạ đàm nhóm phụ nữ

Đề tài đã đề xuất ba nhóm giải pháp xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam đó là nhóm giải pháp thể chế, nhóm giải pháp tuyên truyền và nhóm giải pháp giáo dục, trong đó giải pháp thể chế là nhóm giải pháp cực kỳ quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ của nước ta với sự xuất hiện của nhiều hành vi lệch chuẩn, vi phạm pháp luật như tham nhũng, hối lộ, lãng phí, trốn thuế, bất chấp luật pháp bảo vệ lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ địa phương, lợi ích cá nhân, vi phạm luật pháp và các cam kết quốc tế. Trong bối cảnh mới, cần nghiên cứu, điều chỉnh các quy định luật pháp liên quan đến văn hóa ứng xử, chuẩn mực con người Việt Nam, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế nhưng vẫn giữ gìn, phát triển được các chuẩn mực truyền thống. Các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương cần tiếp tục nghiên cứu để đi tới thống nhất ban hành Bộ chuẩn mực ứng xử của con người Việt Nam thời kỳ mới.

Nhóm giải pháp tuyên truyền tập trung vào nâng cao nhận thức của người dân trong thực hiện các chuẩn mực, đưa chuẩn mực vào cuộc sống. Công tác tuyên truyền cần phải thực hiên thường xuyên, liên tục và rộng khắp trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Các tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội các cấp, các ngành, các địa phương có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn người dân thực hiện chuẩn mực, xây dựng các mô hình tiêu biểu, gương điển hình, lồng ghép nội dung tuyên truyền chuẩn mực con người Việt Nam mới trong các chương trình mục tiêu quốc gia; xây dựng các đề án và kế hoạch phù hợp trong từng thời kỳ và từng địa phương trong việc thực hiện chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới dựa trên quan điểm định hướng của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước.

Đối với giải pháp về giáo dục, đây là giải pháp cơ bản và lâu dài, được nhiều thiết chế và tổ chức xã hội cùng phối hợp thực hiện. Việc đưa chuẩn mực vào cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào giải pháp giáo dục. Giải pháp giáo dục có nhiều ý nghĩa như giáo dục việc phát huy các chuẩn mực văn hóa ứng xử tốt đẹp của dân tộc, giáo dục việc loại bỏ những thói quen xấu, giáo dục việc tiếp thu các chuẩn mực mới. Giáo dục của gia đình cần phối kết hợp nhiều mặt, mang tính thực tiễn cao như trang bị kiến thức, kỹ năng cho cha mẹ để họ có những phương pháp và nội dung giáo dục phù hợp với hệ chuẩn mực mới của gia đình trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Đặc biệt, chú ý những nội dung chuẩn mực gắn với yêu cầu của xã hội mới, từ đó tiếp thu những chuẩn mực nhân văn mới và kế thừa những chuẩn mực tốt đẹp của gia đình Việt Nam truyền thống.

Picture 5

Nhóm công tác của Đề tài chụp ảnh kỷ niệm cùng cán bộ địa phương nơi khảo sát

Hà Thị Minh Khương

  • Thái độ của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội với vấn đề bắt nạt trực tuyến

    Internet và mạng xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của học sinh trong kỷ nguyên số, mở ra những cơ hội học tập và kết nối vô hạn. Tuy nhiên, song hành với những tiện ích đó là sự gia tăng đáng báo động của các hành vi lệch chuẩn trong môi trường ảo, trong đó bắt nạt trực tuyến (cyberbullying) đang trở thành một vấn đề nhức nhối trong môi trường học đường. Do đó, việc tìm hiểu thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với hiện tượng bắt nạt trực tuyến càng có ý nghĩa quan trọng. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Thái độ và hành vi với bắt nạt trực tuyến của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội” do TS. Trần Quý Long làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì thực hiện năm 2026 đã khảo sát bảng hỏi đối với 210 học sinh lớp 10, 11 và lớp 12 ở 02 trường trung học phổ thông tại khu vực nông thôn và đô thị ở Hà Nội. 

  • Hoạt động khảo sát thực địa về “Sự hài lòng của người dân đô thị về môi trường sống tại thành phố Hà Nội”

    Từ ngày 20/07 đến ngày 24/07 năm 2026, đoàn công tác Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã triển khai khảo sát tại phường Dương Nội, thành phố Hà Nội. Đây là hoạt động trong khuôn khổ Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Sự hài lòng của người dân đô thị về môi trường sống tại thành phố Hà Nội” (Mã số nhiệm vụ: CNGĐ&G/NV/2026-15) do ThS. Nguyễn Thị Nga là chủ nhiệm và Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và giới là chủ trì. 

  • Hoạt động khảo sát thực địa về“An ninh cá nhân của phụ nữ đô thị ở Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số”

    Từ ngày 30/6 đến ngày 04/07/2026, đoàn nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã triển khai hoạt động khảo sát thực địa tại phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội. Đây là hoạt động thuộc Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2026 “An ninh cá nhân của phụ nữ đô thị ở Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số” (Mã số nhiệm vụ: CNGĐ&G/NV/2026-14), do ThS. Lê Thị Liễu Hạnh làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là đơn vị chủ trì thực hiện.

  • Hoạt động khảo sát thực địa về “Ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp ứng phó với thiên tai của phụ nữ dân tộc thiểu số ở một xã của tỉnh Sơn La”

    Trong thời gian từ ngày 29/06/2026 đến ngày 03/07/2026 đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã triển khai hoạt động khảo sát thực địa tại xã Tà Xùa, tỉnh Sơn La. Đây là hoạt động trong khuôn khổ Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở: “Ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp ứng phó với thiên tai của phụ nữ dân tộc thiểu số ở một xã của tỉnh Sơn La” (Mã số nhiệm vụ: CNGĐ&G/NV/2026-15) do TS. Đặng Thanh Nhàn là chủ nhiệm và Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là tổ chức chủ trì.  

  • Hội thảo khoa học: Cơ sở lý luận và xây dựng bộ công cụ nghiên cứu về phân biệt tuổi tác đối với người cao tuổi

    Trong khuôn khổ hoạt động khoa học của đề tài “Phân biệt tuổi tác đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hoá dân số ở Việt Nam” (Mã số: 504.05-2025.07), Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đã tổ chức hội thảo khoa học “Cơ sở lý luận và xây dựng bộ công cụ nghiên cứu về phân biệt tuổi tác đối với người cao tuổi” tại Hà Nội, sáng ngày 05/06/2026. Đề tài do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ, TS. Trịnh Thái Quang làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là đơn vị chủ trì. Mục đích của hội thảo là tạo diễn đàn trao đổi học thuật, tiếp thu ý kiến chuyên gia để hoàn thiện cơ sở lý luận và bộ công cụ thu thập dữ liệu của đề tài.

  • Quan niệm về sự chuẩn bị cho tuổi già của người dân đô thị hiện nay (nghiên cứu tại Hà Nội)

    Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam. 

  • Ảnh hưởng của việc cha mẹ lao động di cư nông thôn - đô thị đến chăm sóc và giáo dục con cái

    Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.

  • Hạnh phúc của người Việt Nam trưởng thành và ảnh hưởng của các yếu tố

    Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.

  • Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc, cam kết tổ chức và ý định nghỉ việc: Góc nhìn nhân sự từ ngành du lịch gold

    Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l

  • Tác động của các khu kinh tế, khu công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu xã hội tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh

    Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội. 

  • Biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế

    Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện tượng người lao động Việt Nam di cư đi làm việc ở nước ngoài ngày càng phổ biến, kéo theo những biến đổi đáng kể trong cấu trúc và chức năng gia đình. Bài viết phân tích sự biến đổi chức năng kinh tế và chức năng giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế. Kết quả cho thấy, mặc dù kiều hối do bố, mẹ đi lao động nước ngoài gửi về góp phần cải thiện đời sống và nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ, nhưng sự vắng mặt của cha/mẹ trong thời gian dài làm suy giảm chức năng giáo dục trực tiếp, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận và một số ý kiến của cá nhân về sự biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có bố, mẹ di cư lao động quốc tế.

  • Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Giữ gia đình là giữ nếp nhà, giữ văn hóa, giữ sức mạnh trường tồn của dân tộc

    Nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi Thư chúc mừng tới các gia đình Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trang thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung thư.

  • Kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026): Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng

    Ngày 28/6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam – dịp để tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2026 đánh dấu 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026) với chủ đề "Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng", nhấn mạnh thông điệp: xây dựng gia đình hạnh phúc chính là nền tảng quan trọng để phát triển con người, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hướng tới sự phát triển bền vững của quốc gia.

  • Kỷ niệm 25 năm ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026): Quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình

    Năm 2026 đánh dấu cột mốc 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026). Nhìn lại chặng đường một phần tư thế kỷ, có thể thấy rõ sự nhất quán và phát triển liên tục trong quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam, từ việc xác định gia đình là “tế bào của xã hội” đến việc xây dựng “hệ giá trị gia đình” chuẩn mực trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

  • Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”

    Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026), ngày 24/6 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”. Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý cùng nhau trao đổi, thảo luận về thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam và các giải pháp, kiến nghị xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tin liên quan
1 2 3 4 5  ... 
Tin mới
Thông báo
Ấn phẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
Địa chỉ: Số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (trụ sở chính)
9A Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.38252372
Email: ihfgs.vass@gmail.com