23/09/2026
Hội thảo khoa học “Quyền tiếp cận nguồn nước nhằm đảm bảo sinh kế tại Đồng bằng sông Cửu Long”
Ngày 22/09/2026, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Quyền tiếp cận nguồn nước nhằm đảm bảo sinh kế tại Đồng bằng sông Cửu Long”. Hội thảo nhằm trình bày kết quả và tham vấn ý kiến chuyên gia về kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học cấp Bộ “Quyền tiếp cận nguồn nước nhằm đảm bảo sinh kế của người dân nông thôn tại tỉnh An Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu”, do TS. Phan Thanh Thanh làm Chủ nhiệm
Hội thảo do
TS. Nguyễn Đình Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
chủ trì, với sự tham gia trình bày của
TS. Phan Thanh Thanh, TS. Phạm Thị Tính
và
TS. Bạch Tân Sinh, Phó Viện trưởng Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á, cùng
sự tham dự
các nhà nghiên cứu của Viện.
Toàn cảnh Hội thảo
TS. Nguyễn Đình Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, phát biểu khai mạc Hội thảo
Tại Hội thảo, các diễn giả tập trung trao đổi về
quyền tiếp cận nguồn nước, năng lực chủ động nước, công bằng trong quản trị nước và mối liên hệ giữa nguồn nước với sinh kế. TS. Bạch Tân Sinh đề xuất khung
Quyền - Năng lực - Sinh kế - An ninh nguồn nước, nhấn mạnh chuyển từ cách tiếp cận “cung cấp nước” sang
trao quyền và xây dựng năng lực, kết hợp hạ tầng với các giải pháp phân tán và dựa vào tự nhiên.
TS. Phạm Thị Tính trình bày cơ sở lý luận và khung phân tích về quyền tiếp cận nguồn nước, mở rộng cách tiếp cận quyền về nước sang
sản xuất nông nghiệp. Khung phân tích tập trung vào tính sẵn có, chất lượng/an toàn và khả năng tiếp cận nguồn nước, trong đó xem xét các yếu tố vật lý, kinh tế, không phân biệt đối xử, thông tin, hạ tầng – công nghệ và thể chế, gắn với các nguyên tắc công bằng.
Trình bày kết quả nghiên cứu tại An Giang,
TS. Phan Thanh Thanh
cho biết nghiên cứu được thực hiện thông qua
94 cuộc phỏng vấn sâu tại An Cư, Tri Tôn và Thoại Sơn. Kết quả bước đầu cho thấy sự khác biệt về khả năng tiếp cận nguồn nước giữa các địa bàn, đồng thời chỉ ra những khó khăn mà một số nhóm dễ bị tổn thương, trong đó có phụ nữ, người Khmer nghèo và người cao tuổi, đang gặp phải. Nhóm nghiên cứu đề xuất một số hướng giải pháp như thể chế hóa quyền về nước, thúc đẩy đồng quản trị cộng đồng, mở rộng tín dụng xanh và phát triển các mô hình sinh kế thích ứng.
Phần thảo luận
tập trung vào công bằng trong tiếp cận và quản trị nguồn nước, tri thức bản địa, năng lực thích ứng và cách tiếp cận
“thuận thiên”. Các đại biểu đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp tục làm rõ sự khác biệt giữa các địa bàn và nhóm dân cư, khai thác sâu dữ liệu phỏng vấn, lựa chọn các trường hợp nghiên cứu điển hình và bổ sung bằng chứng định lượng. Đồng thời, các giải pháp cần gắn với điều kiện tự nhiên, sinh kế và đặc điểm cụ thể của từng địa bàn, cũng như làm rõ chủ thể và điều kiện thực hiện.
Kết luận Hội thảo,
TS. Nguyễn Đình Tuấn
nhấn mạnh rằng
có nguồn nước không đồng nghĩa với việc người dân có thể thực sự tiếp cận và sử dụng nguồn nước. Việc bảo đảm quyền tiếp cận cần gắn với cơ sở hạ tầng, năng lực, thông tin, công nghệ và sự tham gia của người dân; đồng thời cần đặt công bằng ở vị trí quan trọng trong quản trị nước và gắn bảo đảm sinh kế với năng lực thích ứng.
Tiếp thu các ý kiến tại Hội thảo,
TS. Phan Thanh Thanh
cho biết nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục hoàn thiện báo cáo, chú trọng làm rõ cách tiếp cận, khai thác sâu dữ liệu phỏng vấn và xây dựng các trường hợp nghiên cứu phù hợp. Hội thảo
đã
góp phần thúc đẩy trao đổi liên ngành về quyền tiếp cận nguồn nước, sinh kế và khả năng thích ứng của cộng đồng tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Phan Thanh Thanh
-
Ngày 22/09/2026, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Quyền tiếp cận nguồn nước nhằm đảm bảo sinh kế tại Đồng bằng sông Cửu Long”. Hội thảo nhằm trình bày kết quả và tham vấn ý kiến chuyên gia về kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học cấp Bộ “Quyền tiếp cận nguồn nước nhằm đảm bảo sinh kế của người dân nông thôn tại tỉnh An Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu”, do TS. Phan Thanh Thanh làm Chủ nhiệm
-
Đề tài “Phân biệt tuổi tác đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam” (mã số 504.05-2025.07) vừa tổ chức đợt khảo sát thực địa đầu tiên tại tỉnh Lạng Sơn vào tháng 9/2026. Đề tài do Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là cơ quan chủ trì, Quỹ Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted) tài trợ kinh phí thực hiện và TS. Trịnh Thái Quang làm chủ nhiệm.
-
Sáng ngày 27/08/2026, tại trụ sở số 9 Kim Mã Thượng, Ngọc Hà, Hà Nội, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong nền kinh tế số ở Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra”. Tọa đàm thuộc nhiệm vụ cấp Cơ sở “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong nền kinh tế số ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, do TS. Phạm Thị Tính làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là cơ quan chủ trì.
-
Chiều ngày 27/08/2026, tại trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Các cách tiếp cận trong nghiên cứu về thành tựu nhân loại về xây dựng hệ thống an sinh xã hội thông minh”.
-
Trong khuôn khổ các hoạt động khoa học năm 2026 của Viện, ngày 26/08/2026 tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Chăm sóc và giáo dục con của người lao động di cư khu vực phi chính thức: Những phát hiện ban đầu từ nghiên cứu tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh”. Hội thảo là một trong số các hoạt động của Nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ “Chăm sóc và giáo dục con lứa tuổi học sinh phổ thông của cha mẹ di cư khu vực phi chính thức tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh” (Mã số: KHXH/NV/2025-80) do Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới là cơ quan chủ trì và ThS. NCVC. Vũ Thị Cúc làm chủ nhiệm thực hiện trong thời gian 2 năm (2025-2026).
-
Sáng ngày 25/06/2026, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (IHFGS) đã có buổi làm việc với Trung tâm ASEAN về Già hoá chủ động và Sáng tạo (ASEAN Center for Active Aging and Innocvation-ACAI).
-
Trong khuôn khổ thực hiện nhiệm vụ cấp Bộ “Nâng cao hiểu biết số của người cao tuổi hiện nay vì mục tiêu phát triển con người (qua nghiên cứu ở thành phố Hà Nội và tỉnh Thái Bình)”, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường Cửa Nam tổ chức Hội nghị chia sẻ thông tin và triển khai khảo sát, đánh giá hiểu biết số của người cao tuổi trên địa bàn phường Cửa Nam (Hà Nội) trong bối cảnh chuyển đổi số.. Hoạt động này diễn ra vào đúng dịp kỉ niệm 3 năm ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10/2022-10/10/2025).
-
-
-
-
Việc chuẩn bị cho tuổi già sẽ giúp cá nhân đảm bảo chất lượng cuộc sống khi về già, đồng thời làm giảm gánh nặng cho hệ thống phúc lợi của nhà nước. Tuy nhiên, chủ đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam.
-
Sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu trong khu vực về ảnh hưởng của cha mẹ di cư đến con cái, bài viết hướng đến nhóm trẻ em trong các gia đình di cư nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của việc cha mẹ di cư đến việc chăm sóc và giáo dục con cái.
-
Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu và cung cấp những thông tin, hiểu biết sâu sắc về tác động của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội đến mức độ hạnh phúc của người trưởng thành 15-49 tuổi ở Việt Nam. Qua đó cung cấp thông tin cho các sáng kiến chính sách nhằm đảm bảo công bằng và nâng cao hạnh phúc cho người dân trong tiến trình nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc của người dân. Những nhóm xã hội như nam giới, dân tộc Kinh, đang kết hôn, trình độ học vấn và mức sống cao, nơi cư trú tại thành thị có mức độ hạnh phúc cao hơn so với các nhóm xã hội khác. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng trong việc nâng cao hơn nữa hạnh phúc cho người dân.
-
Nhân viên trong ngành du lịch golf thường đến với nghề bởi kỳ vọng đây là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp có khả năng mang lại thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Trong giai đoạn đầu, yếu tố tài chính đóng vai trò như động lực thu hút và tạo ra mức độ gắn kết ban đầu giữa người lao động và tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự gắn kết này không mang tính bền vững nếu môi trường làm việc thiếu hỗ trợ, mối quan hệ nội bộ không tích cực hoặc tổ chức không tạo được cảm giác tự hào và giá trị nghề nghiệp cho nhân viên. Áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giải thích, bằng cách phỏng vấn sâu các vị trí lãnh đạo quản lý, tiếp theo đó là việc tiến hành khảo sát định lượng. Nghiên cứu xác định rằng để một nhân viên "gắn kết một thời" trở thành "gắn bó một đời", yếu tố cam kết với tổ chức cần được nuôi dưỡng dựa trên sự hài lòng trong công việc, sự thấu hiểu văn hóa doanh nghiệp, cảm giác được tôn trọng và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp. Điều này nhấn mạnh rằng việc duy trì nguồn nhân l
-
Bài viết phân tích vai trò động lực của các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đối với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh, đồng thời xác định các tác động của chúng đến chuyển dịch cơ cấu xã hội.
-
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện tượng người lao động Việt Nam di cư đi làm việc ở nước ngoài ngày càng phổ biến, kéo theo những biến đổi đáng kể trong cấu trúc và chức năng gia đình. Bài viết phân tích sự biến đổi chức năng kinh tế và chức năng giáo dục trong các gia đình có người di cư lao động quốc tế. Kết quả cho thấy, mặc dù kiều hối do bố, mẹ đi lao động nước ngoài gửi về góp phần cải thiện đời sống và nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ, nhưng sự vắng mặt của cha/mẹ trong thời gian dài làm suy giảm chức năng giáo dục trực tiếp, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận và một số ý kiến của cá nhân về sự biến đổi chức năng kinh tế và giáo dục trong các gia đình có bố, mẹ di cư lao động quốc tế.
-
Nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi Thư chúc mừng tới các gia đình Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trang thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung thư.
-
Ngày 28/6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam – dịp để tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2026 đánh dấu 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026) với chủ đề "Gia đình hạnh phúc – Quốc gia thịnh vượng", nhấn mạnh thông điệp: xây dựng gia đình hạnh phúc chính là nền tảng quan trọng để phát triển con người, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hướng tới sự phát triển bền vững của quốc gia.
-
Năm 2026 đánh dấu cột mốc 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/06/2001 - 28/06/2026). Nhìn lại chặng đường một phần tư thế kỷ, có thể thấy rõ sự nhất quán và phát triển liên tục trong quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam, từ việc xác định gia đình là “tế bào của xã hội” đến việc xây dựng “hệ giá trị gia đình” chuẩn mực trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
-
Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026), ngày 24/6 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp”. Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý cùng nhau trao đổi, thảo luận về thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam và các giải pháp, kiến nghị xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới.
| |
-
Đang online:
1
-
Hôm nay:
1
-
Trong tuần:
1
-
Tất cả:
1
|